Thứ Tư , 10/06/2026 , 20:47:09 GMT+7

Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản để trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Tư, 03/06/2026, 14:40:11 GMT+7

Muốn làm chủ công nghệ chiến lược, không thể chỉ dựa vào chuyển giao hay nhập khẩu công nghệ. Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là đầu tư cho năng lực sáng tạo của quốc gia, tạo nền tảng để hình thành những đột phá khoa học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Cụ thể hoá mục tiêu Nghị quyết số 57-NQ/TW

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Quyết định 2555/QĐ-BKHCN phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (Program for Excellence in Basic Research - PEBR). Điểm đáng chú ý của Chương trình PEBR là chuyển từ mô hình tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu đơn lẻ, ngắn hạn sang đầu tư theo các định hướng nghiên cứu trung và dài hạn từ 5-10 năm. Chương trình ưu tiên các chuỗi, cụm nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản có mục tiêu khoa học rõ ràng, gắn với phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể.

Việc đầu tư sẽ tập trung vào các vấn đề khoa học nền tảng có tiềm năng tạo đột phá, phù hợp với lợi thế và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Trong đó, các lĩnh vực ưu tiên gồm: Công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghệ bán dẫn và các lĩnh vực trọng điểm khác theo từng thời kỳ. Theo mục tiêu tổng quát, PEBR hướng tới phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên trở thành cấu phần cốt lõi của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nâng cao năng lực nghiên cứu đạt trình độ quốc tế; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế và tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn.

Quyết định đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản xuất sắc là một trong những bước triển khai cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57 xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt của tăng trưởng trong giai đoạn mới; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và nâng cao năng lực tự chủ khoa học công nghệ quốc gia. Văn kiện này cũng chỉ rõ thực trạng nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ của Việt Nam chưa tạo được những bước đột phá đủ lớn, chưa làm chủ được nhiều công nghệ cốt lõi và còn khoảng cách đáng kể với các quốc gia phát triển.

Điểm đáng chú ý là trước đây, nghiên cứu cơ bản thường được nhìn nhận như hoạt động học thuật thuần túy, khó tạo ra hiệu quả kinh tế trước mắt. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu, cách tiếp cận này đang thay đổi mạnh mẽ. Nghiên cứu cơ bản ngày càng được xem là nguồn vốn tri thức để tạo ra các công nghệ mang tính cách mạng trong tương lai. Nếu muốn làm chủ trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, bán dẫn, vật liệu mới hay công nghệ sinh học, quốc gia phải sở hữu những nền tảng khoa học cơ bản đủ mạnh. Vì vậy, việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản hiện nay không chỉ nhằm nâng cao số lượng công bố quốc tế mà còn hướng tới mục tiêu dài hạn hơn là xây dựng năng lực công nghệ nội sinh.

Tạp chí giáo dục
Quyết định đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản xuất sắc là một trong những bước triển khai cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nguồn: Đại học Quốc gia Hà Nội)

Kinh nghiệm quốc tế: Đột phá công nghệ bắt đầu từ đầu tư cho khoa học nền tảng

Hầu hết các đột phá công nghệ đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản được đầu tư bền bỉ trong nhiều thập niên. Tại Đức, Chính phủ triển khai chương trình Excellence Strategy, đầu tư dài hạn cho các Clusters of Excellence (cụm nghiên cứu xuất sắc) và Universities of Excellence (đại học xuất sắc). Mục tiêu là tập trung nguồn lực cho các nhóm nghiên cứu có tiềm năng dẫn dắt các lĩnh vực khoa học mũi nhọn, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các trường đại học. Ngân sách chương trình lên tới hàng trăm triệu euro mỗi năm và được duy trì theo chu kỳ dài hạn.

Tại Mỹ, Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) nhiều năm qua triển khai chương trình Science and Technology Centers (STC), tài trợ quy mô lớn và dài hạn cho các trung tâm nghiên cứu liên ngành nhằm tạo ra những đột phá khoa học và công nghệ mang tính nền tảng. Các trung tâm này tập hợp đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và phòng thí nghiệm quốc gia để theo đuổi những hướng nghiên cứu có thể mất nhiều năm mới tạo ra kết quả. Đây là mô hình đáng tham khảo bởi nghiên cứu cơ bản trong mô hình này không tách rời đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Mỹ đầu tư cho khoa học nền tảng nhưng luôn thiết kế cơ chế kết nối với doanh nghiệp và hệ sinh thái công nghệ.

Chương trình PEBR đặt mục tiêu xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng dẫn dắt các hướng nghiên cứu tiên tiến. Cụ thể, đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực. Đến năm 2035, số lượng nhóm nghiên cứu mạnh dự kiến tăng lên khoảng 50 nhóm, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét. Đây là hướng đi phù hợp với kinh nghiệm quốc tế, các đột phá khoa học thường không xuất phát từ những cá nhân đơn lẻ mà từ các hệ sinh thái nghiên cứu gồm nhà khoa học, phòng thí nghiệm, trường đại học và mạng lưới hợp tác quốc tế.

Bên cạnh đó, chính sách đầu tư cũng gắn với chiến lược thu hút nhân tài khoa học. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực nghiên cứu là yếu tố quyết định. Những quốc gia có nền khoa học mạnh đều sở hữu cơ chế đặc biệt để thu hút và giữ chân các nhà khoa học xuất sắc. Nếu được triển khai hiệu quả, gắn với cơ chế trọng dụng nhân tài, tự chủ nghiên cứu và kết nối chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Chương trình PEBR có thể trở thành nền tảng để hình thành những "hạt nhân" khoa học mới, tạo ra các công nghệ mang dấu ấn Việt Nam và góp phần hiện thực hóa mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược trong những thập niên tới.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận