Thứ Sáu , 29/05/2026 , 03:52:44 GMT+7

Không để áp lực thi cử trở thành rào cản của mục tiêu phổ cập giáo dục

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Hai, 18/05/2026, 07:55:50 GMT+7

Mục tiêu phổ cập trung học phổ thông đang được đặt ra để đảm bảo quyền học tập thực sự của mọi học sinh. Giảm áp lực thi cử, mở rộng trường lớp, phân bổ nguồn lực hợp lý và thu hẹp khoảng cách vùng miền đang trở thành yêu cầu cấp thiết để thực hiện hiệu quả mục tiêu này.

Hiện nay ở các đô thị lớn, áp lực thi vào lớp 10 công lập ngày càng tăng cao khi số lượng học sinh tăng nhanh nhưng trường lớp chưa đáp ứng kịp. Một số địa phương có tỷ lệ cạnh tranh vào trường công lập còn căng thẳng hơn tuyển sinh đại học. Thực trạng này đặt ra nghịch lý với chủ trương hướng tới phổ cập trung học phổ thông và mở rộng cơ hội học tập cho mọi người dân.

Phát biểu trong cuộc tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra sáng 04/5 tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề cập tới một trong những vấn đề nóng của giáo dục hiện nay, đó là kỳ thi vào lớp 10 tại nhiều địa phương còn căng thẳng hơn cả thi đại học.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng: “Cũng vì thực tế không đủ trường, không đủ thầy, nên sinh ra thi tuyển để bằng những biện pháp hành chính loại các cháu ra, không cho vào học, trong khi chủ trương của Nhà nước là phổ cập giáo dục từ mầm non đến hết lớp 12 và miễn giảm học phí.”

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, học thì phải thi, nhưng thi không phải giải pháp để loại các cháu ra không cho đến trường, mà thi là để đánh giá chất lượng dạy và học.

Thi cử đang gánh cùng lúc nhiều chức năng

Trong nhiều năm, Việt Nam đạt những thành tựu quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Tuy nhiên, khi tiến tới mục tiêu phổ cập trung học phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, khái niệm công bằng giáo dục cần được hiểu rộng hơn.

Công bằng không chỉ là việc mọi học sinh đều có tên trong hệ thống giáo dục. Quan trọng hơn, đó là khả năng tiếp cận cơ hội học tập tương đối bình đẳng, không bị quyết định quá lớn bởi nơi sinh sống, điều kiện kinh tế hay khả năng chi trả của gia đình.

Hiện nay, khoảng cách này vẫn tồn tại khá rõ. Ở các đô thị lớn như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, sức ép dân số cơ học khiến nhiều khu vực rơi vào tình trạng thiếu trường lớp kéo dài. Trong khi đó, ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn lại nằm ở điều kiện học tập, thiếu giáo viên, khoảng cách địa lý và chất lượng giáo dục chưa đồng đều.

Nếu không giải quyết đồng thời cả hai bài toán này, phổ cập trung học phổ thông có nguy cơ trở thành phổ cập “hình thức”: học sinh có quyền đi học nhưng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng vẫn chênh lệch rất lớn.

Thực tế, áp lực thi cử hiện nay phần nào phản ánh sự mất cân đối về nguồn lực giáo dục. Khi chỉ tiêu trường công không đủ đáp ứng nhu cầu, kỳ thi tuyển sinh trở thành công cụ sàng lọc. Những học sinh không trúng tuyển thường phải chuyển sang trường tư với học phí cao hơn hoặc theo học giáo dục thường xuyên. Một kỳ thi vốn chỉ nên làm nhiệm vụ đánh giá học tập, nhưng trong thực tế lại đang gánh cả vai trò phân luồng và phân bổ cơ hội giáo dục. Khi số lượng trường lớp chưa đủ, thi tuyển trở thành giải pháp để giải quyết bài toán quá tải. Điều này khiến áp lực đè nặng lên học sinh từ rất sớm.

Ở tuổi 14-15, nhiều học sinh đã bước vào các cuộc đua luyện thi kéo dài, học thêm dày đặc và chịu áp lực tâm lý lớn từ gia đình lẫn xã hội. Không ít em coi kỳ thi lớp 10 là “bước ngoặt quyết định tương lai”, dù trên thực tế đây chỉ là một giai đoạn trong hành trình học tập.

Tạp chí giáo dục
Một số địa phương có tỷ lệ cạnh tranh vào trường cấp ba công lập còn căng thẳng hơn tuyển sinh đại học (Ảnh: Báo Chính phủ)

Phổ cập phải đi cùng chất lượng và khả năng tiếp cận của người học

Hà Nội hiện xác định 33 địa bàn còn thiếu trường học và đang ưu tiên đầu tư xây dựng thêm trường trung học phổ thông công lập. Thành phố cũng dự kiến bổ sung thêm nhiều trường mới trong giai đoạn tới. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, kế hoạch xây mới hàng nghìn phòng học cũng đang được thúc đẩy nhằm giải quyết tình trạng quá tải do gia tăng dân số cơ học.

Tuy nhiên, mở rộng trường lớp không đơn thuần là xây thêm phòng học. Điều quan trọng hơn là quy hoạch dài hạn dựa trên dữ liệu dân cư, tốc độ đô thị hóa và xu hướng dịch chuyển dân số. Nếu quy hoạch đi sau thực tế, tình trạng thiếu trường lớp sẽ tiếp tục lặp lại theo chu kỳ. Một khu đô thị mới có thể mọc lên rất nhanh, nhưng trường học lại chậm nhiều năm. Khi đó, áp lực lại dồn lên các trường công lập hiện hữu.

Cùng với cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên cũng là yếu tố quyết định chất lượng phổ cập. Việc phân bổ biên chế giáo viên cứng nhắc trong khi quy mô học sinh thay đổi liên tục sẽ dẫn tới nơi thừa, nơi thiếu, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền học tập của học sinh.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 71, hướng tới mục tiêu đảm bảo đủ trường, lớp cho học sinh trong độ tuổi đến trường, các địa phương trong cả nước đã và đang tích cực rà soát mạng lưới, dành nguồn lực đầu tư xây dựng bổ sung trường học, dồn lực cho giáo dục vùng khó khăn, khu vực biên giới. Gần 230 trường học đã và đang được xây dựng ở các xã biên giới đất liền theo chủ trương của Bộ Chính trị nhằm góp phần cải thiện điều kiện học tập cho học sinh, góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền.

Cần thay đổi tư duy về thi cử

Mục tiêu hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương vào năm 2035 cho thấy giáo dục phổ thông đang được nhìn nhận như quyền cơ bản của công dân trong xã hội hiện đại. Nhưng để đạt được điều đó, hệ thống giáo dục cần vượt qua tư duy “chọn lọc số ít” để chuyển sang tư duy “mở rộng cơ hội”.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã tiến rất gần hoặc đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục trung học, nhưng cách thức tổ chức lại không dựa vào một kỳ thi như ở một số nơi hiện nay. Tại Phần Lan hay Hoa Kỳ, học sinh gần như tự động chuyển tiếp lên bậc trung học phổ thông mà không phải trải qua kỳ thi tuyển sinh; hệ thống được thiết kế đủ chỗ học và phân bổ theo khu vực hoặc nguyện vọng, qua đó giảm áp lực cạnh tranh ngay từ đầu. Trong khi đó, Nhật Bản vẫn duy trì thi vào trung học phổ thông, nhưng kỳ thi chủ yếu nhằm phân loại giữa các trường, không loại học sinh khỏi hệ thống, nhờ mạng lưới trường học đa dạng và quy mô đủ lớn. Một số quốc gia như Đức lại lựa chọn hướng phân luồng hoặc kết hợp thi tuyển với phát triển mạnh giáo dục nghề, coi đây là một phần của phổ cập sau trung học cơ sở. Điểm chung trong các mô hình này là bảo đảm mọi học sinh đều có lối đi tiếp theo, theo hai hướng hướng học thuật hoặc nghề nghiệp. Điều đó cho thấy, để đạt được công bằng thực chất trong phổ cập giáo dục, cần một hệ thống giáo dục có đủ mở, đủ linh hoạt và đủ năng lực đáp ứng để không một học sinh nào bị bỏ lại phía sau.

Kỳ thi lớp 10 có thể vẫn cần thiết như một công cụ đánh giá, nhưng không nên là điểm nghẽn khiến học sinh bị hạn chế trên hành trình học tập. Khi hệ thống giáo dục đủ năng lực tiếp nhận, đủ linh hoạt để phân luồng hợp lý và đủ công bằng để mọi học sinh đều có lựa chọn phù hợp, áp lực thi cử sẽ giảm, qua đó các hiện tượng liên quan cũng từng bước được khắc phục.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận