Thứ Sáu , 03/04/2026 , 22:29:52 GMT+7

Nâng cao chất lượng công bố khoa học trong tiến trình hội nhập quốc tế

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Ba, 31/03/2026, 08:21:28 GMT+7

Trong những năm gần đây, Việt Nam chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng về công bố khoa học quốc tế. Tuy nhiên, cùng với đà tăng này, một vấn đề ngày càng được đặt ra rõ ràng: liệu việc gia tăng số lượng bài báo có đồng nghĩa với nâng cao chất lượng nghiên cứu và vị thế học thuật?

Không thể chỉ “đếm” bài báo khoa học

Phát biểu tại buổi làm việc với các cơ sở giáo dục đại học về tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng không thể chỉ “đếm bài báo” hay so sánh tăng trưởng lượng công bố hàng năm. Khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; những đề tài, nhiệm vụ khoa học giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước; đội ngũ nhân lực chất lượng cao mà các trường đại học đào tạo phải đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Những đóng góp đó cần được chứng minh bằng kết quả cụ thể. Trong bối cảnh toàn cầu hóa tri thức, các quốc gia không chỉ cạnh tranh về số lượng công bố mà còn về ảnh hưởng học thuật, giá trị ứng dụng và đóng góp thực tiễn của nghiên cứu.

Tạp chí giáo dục
Đội ngũ nhân lực chất lượng cao mà các trường đại học đào tạo phải đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội (Ảnh: Báo Chính phủ)

Theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học hiện đóng góp khoảng 85% tổng số bài báo của Việt Nam trong danh mục WoS/Scopus. Điều này khẳng định vai trò trung tâm của đại học không chỉ trong đào tạo mà còn trong sản xuất tri thức.

Năm 2025, theo thống kê từ bảng xếp hạng SARAP, Việt Nam có khoảng 14.880 bài báo nghiên cứu thuộc Web of Science, tăng hơn 18% so với năm trước và chiếm khoảng 0,53% sản lượng toàn cầu . Những con số này cho thấy năng lực nghiên cứu của Việt Nam đang được cải thiện đáng kể. Các đại học lớn như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội đóng vai trò dẫn dắt về công bố. Sự lan tỏa nghiên cứu cũng đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực từ kỹ thuật, công nghệ đến y dược và khoa học xã hội.

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào cấu trúc hệ thống, có thể thấy một nghịch lý: dù số lượng bài báo tăng nhanh, nhưng khả năng làm chủ nghiên cứu và mức độ ảnh hưởng quốc tế vẫn còn hạn chế. Trong hệ thống đánh giá khoa học quốc tế, các chỉ số như trích dẫn (citation), hệ số ảnh hưởng (impact factor) hay phân hạng tạp chí (Q1–Q4) đóng vai trò quyết định. Một bài báo được đăng chưa đủ, mà phải được cộng đồng khoa học quốc tế sử dụng, trích dẫn và phát triển tiếp.

Thực tế cho thấy, nhiều bài báo của Việt Nam có tỷ lệ đồng tác giả quốc tế cao, trong khi vai trò tác giả chính còn hạn chế. Điều này phần nào phản ánh năng lực dẫn dắt nghiên cứu chưa tương xứng với số lượng công bố.

Bên cạnh đó, số lượng tạp chí khoa học của Việt Nam được đưa vào các cơ sở dữ liệu lớn còn rất khiêm tốn. Tính đến năm 2025, chỉ có khoảng 2% tạp chí Việt Nam nằm trong danh mục Scopus và WoS . Điều này dẫn đến thực tế là phần lớn nhà khoa học Việt Nam phải công bố trên các tạp chí quốc tế khi hệ sinh thái xuất bản trong nước chưa đủ mạnh.

Một số chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học

Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt cho phát triển đất nước. Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT quy định chuẩn cơ sở giáo dục đại học, trong đó yêu cầu số bài báo bình quân trên giảng viên đạt tối thiểu 0,3 bài/năm và cao hơn với cơ sở đào tạo tiến sĩ. Bên cạnh đó, Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg về tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư, đặt yêu cầu bắt buộc về công bố công trình khoa học. Ngoài ra, nhiều trường đại học đã triển khai cơ chế thưởng công bố quốc tế, với mức hỗ trợ có thể lên tới hàng trăm triệu đồng cho mỗi bài báo.

Những chính sách này đã tạo ra động lực mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy gia tăng số lượng công bố. Tuy nhiên, hệ quả là ở một số nơi xuất hiện xu hướng chạy theo số lượng hoặc công bố trên các tạp chí chất lượng chưa cao.

Hội nhập quốc tế cần chú trọng chất lượng thực chất

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các bảng xếp hạng đại học như QS, THE hay ARWU đều sử dụng tiêu chí công bố khoa học và trích dẫn làm thước đo quan trọng. Điều này khiến công bố quốc tế trở thành mục tiêu chung trong cạnh tranh học thuật toàn cầu. Hai cơ sở dữ liệu lớn hiện nay là Web of Science và Scopus, với hàng chục nghìn tạp chí và nhiều trích dẫn. Việc có bài báo trong các hệ thống này không chỉ phản ánh năng lực nghiên cứu mà còn quyết định vị thế của các cơ sở giáo dục đại học trên bản đồ tri thức thế giới.

Các quốc gia phát triển chú trọng nghiên cứu liên ngành, giải quyết vấn đề lớn; công bố trên tạp chí Q1, Q2; gia tăng chỉ số trích dẫn; gắn nghiên cứu với đổi mới sáng tạo và thương mại hóa. Đây cũng là những tiêu chí mà Việt Nam cần hướng tới nếu muốn nâng cao thứ hạng khoa học.

Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển mình quan trọng trong phát triển khoa học công nghệ. Việc gia tăng nhanh số lượng công bố quốc tế là một thành tựu đáng ghi nhận, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu. Trong kỷ nguyên tri thức, giá trị của khoa học không nằm ở số lượng bài báo, mà ở khả năng tạo ra tri thức mới, giải quyết vấn đề thực tiễn và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.

Nếu tiếp tục chạy theo số lượng, Việt Nam có thể đạt “tăng trưởng nóng” nhưng khó bền vững. Ngược lại, nếu chuyển hướng sang chất lượng, tác động và đổi mới sáng tạo, hệ thống khoa học công nghệ sẽ trở thành động lực thực sự cho phát triển đất nước.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận