Cụ thể, đào tạo chính quy là hình thức thực hiện tập trung toàn thời gian theo quy định tại Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15; đào tạo thường xuyên được thực hiện theo thời gian linh hoạt, gồm hai phương thức.
Thứ nhất là phương thức kết hợp giữa trực tiếp và từ xa, trong đó đào tạo trực tiếp chiếm tối thiểu trên 50% tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo.
Thứ hai là đào tạo từ xa, là phương thức tổ chức đào tạo có từ 50% tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo trở lên được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông theo một hoặc kết hợp giữa các phương thức tổ chức đào tạo từ xa qua mạng máy tính, viễn thông, thư tín, phát thanh - truyền hình; đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo từ xa.
Bộ GDĐT lưu ý, các hình thức đào tạo chính quy, vừa làm vừa học và đào tạo từ xa đã tổ chức tuyển sinh trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực được hiểu tương ứng lần lượt là đào tạo chính quy, kết hợp trực tiếp và từ xa và đào tạo từ xa trong các báo cáo, tổng hợp, thống kê về số lượng tuyển sinh và quy mô người học theo quy định mới.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định nguyên tắc xác định và thực hiện số lượng tuyển sinh là cơ sở đào tạo thực hiện tuyển sinh tương ứng với số lượng tuyển sinh đã công bố. Trong đó, “số thực tuyển” cho tất cả các đợt tuyển sinh trong năm phải bảo đảm các yêu cầu cụ thể.
Đối với trình độ đại học, nếu số lượng tuyển sinh đã công bố dưới 100, số thực tuyển không được vượt quá 10% và số lượng vượt từ 5 trở lên.
Nếu số lượng tuyển sinh đã công bố từ 100 trở lên, mức vượt không quá 5% và số lượng vượt từ 30 trở lên; đồng thời tổng quy mô tuyển sinh theo từng hình thức và phương thức tổ chức đào tạo không vượt quá 5% tổng số lượng tuyển sinh đã công bố theo hình thức và phương thức tương ứng.
Riêng các ngành đào tạo giáo viên, số thực tuyển không vượt quá 20% số lượng tuyển sinh được Bộ GDĐT thông báo cho từng ngành và phải bảo đảm tổng quy mô tuyển sinh các ngành đào tạo giáo viên nằm trong tổng số lượng đã được thông báo.
Đối với trình độ thạc sĩ, số thực tuyển không vượt quá 20% số lượng tuyển sinh đã công bố.
Đối với trình độ tiến sĩ, số lượng tuyển sinh không được vượt quá năng lực đào tạo của cơ sở đào tạo.
Số thực tuyển trong một năm là số người học trúng tuyển, hoàn thành thủ tục nhập học và đăng ký học tập tại trụ sở chính, hoặc tại từng phân hiệu (nếu có) của cơ sở đào tạo trong năm tuyển sinh, được xác định theo ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo tại thời điểm ngày 31 tháng 12 của năm tuyển sinh.
Tỷ lệ tối đa số lượng người học quy đổi (tất cả các hình thức, trình độ đào tạo) trên giảng viên quy đổi đối với từng nhóm ngành và từng ngành là 40.
Đáng chú ý, tỷ lệ người học thạc sĩ, tiến sĩ quy đổi trên giảng viên quy đổi phải chiếm tối thiểu 15% tỷ lệ tối đa số lượng người học quy đổi.
Đối với người học các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, việc xác định theo người học trực tiếp của trình độ đào tạo tương ứng với hệ số quy đổi không thấp hơn 0,75.
Về đào tạo sau đại học, tỷ lệ số lượng nghiên cứu sinh tối đa trên 1 giảng viên được xác định là: giáo sư 8 nghiên cứu sinh, phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học 6 nghiên cứu sinh, tiến sĩ 3 nghiên cứu sinh.
Tỷ lệ số lượng học viên cao học tối đa là 6 học viên trên 1 giảng viên.
Về hệ số quy đổi theo trình độ, giảng viên có trình độ đại học tại cơ sở giáo dục đại học được tính hệ số 0,50; trình độ thạc sĩ là 0,75; giảng viên có trình độ tiến sĩ hoặc có chức danh phó giáo sư, giáo sư được tính hệ số 1,00.
Thông tư cũng nêu rõ, tổng số lượng tuyển sinh của mỗi trình độ, hình thức đào tạo tại trụ sở chính và từng phân hiệu không tăng quá 10% số lượng thực tuyển theo ngành, nhóm ngành của năm trước liền kề, trừ ngành mới mở trong năm tuyển sinh và các cơ sở đào tạo mới thành lập trong 5 năm.
Số lượng tuyển sinh của mỗi nhóm ngành ở trình độ đại học, thạc sĩ và từng ngành theo từng hình thức, phương thức tổ chức đào tạo tại từng địa điểm không được tăng so với năm trước liền kề nếu thuộc một trong các trường hợp như:
Vi phạm quy định về nguyên tắc xác định số lượng tuyển sinh hoặc bị xử phạt hành chính trong năm liền kề; không đạt hoặc không duy trì các tiêu chí tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động; không đạt tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ và diện tích đất trên người học theo chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
Ngoài ra còn có các trường hợp như tỷ lệ thôi học năm đầu cao hơn 15% tính đến ngày 31/8 hằng năm; tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm thấp hơn 70% tính đến ngày 31/12 hằng năm; chưa được công nhận đạt kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo hoặc kết quả kiểm định đã hết hiệu lực tại thời điểm công bố số lượng tuyển sinh.