Thứ Sáu , 29/05/2026 , 02:45:26 GMT+7

Đổi mới đào tạo nhân lực theo nhu cầu thị trường lao động

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 14/05/2026, 11:41:01 GMT+7

Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, cơ cấu việc làm dịch chuyển liên tục, các doanh nghiệp ngày càng khắt khe về kỹ năng. Xu hướng đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động đang trở thành yêu cầu tất yếu nhằm giải quyết bài toán nhân lực, đồng thời tạo cơ hội việc làm bền vững cho người học.

Đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động

Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động đã được nhắc tới nhiều năm nay. Trong bối cảnh chuyển đổi số, tự đông hoá và cạnh tranh nhân lực toàn cầu, vấn đề này trở nên cấo thiết hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp không chỉ cần người có kiến thức chuyên môn mà còn đòi hỏi năng lực thực hành, kỹ năng công nghệ, khả năng thích ứng và tư duy giải quyết vấn đề. Xu hướng mới đang hình thành rõ nét: thay vì đào tạo theo những gì nhà trường “có”, hệ thống giáo dục phải chuyển sang đào tạo theo những gì thị trường “cần”.

Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 quy định rõ nguyên tắc của giáo dục nghề nghiệp là bảo đảm gắn kết đào tạo với yêu cầu việc làm và thị trường lao động. Doanh nghiệp được khuyến khích trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, xây dựng chương trình, đánh giá kết quả học tập của ngời học… Như vậy, việc gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn không còn là lựa chọn mà là hướng đi tất yếu để giải bài toán nhân lực trong giai đoạn phát triển mới. Đồng thời, nhiều nghiên cứu và chính sách gần đây cũng cho thấy giáo dục nghề nghiệp đang được định hướng mạnh theo yêu cầu thị trường lao động, coi tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo.

Một trong những thay đổi lớn nhất của giáo dục hiện nay là tư duy xây dựng chương trình đào tạo. Nếu trước đây, chương trình thường ổn định trong thời gian dài, thiên về lý thuyết và ít thay đổi theo nhu cầu thực tiễn, thì hiện nay nhiều trường đã bắt đầu điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn: cập nhật công nghệ mới, tăng thời lượng thực hành, đưa doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình.

Ở nhiều lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, logistics, tự động hóa, thương mại điện tử hay công nghệ xanh, nhu cầu nhân lực tăng rất nhanh. Điều này buộc các cơ sở đào tạo phải thay đổi nếu không muốn sinh viên ra trường đối mặt với nguy cơ thất nghiệp hoặc làm trái ngành.
Đặc biệt, giáo dục nghề nghiệp đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược phát triển nhân lực. Nhiều học sinh, sinh viên tốt nghiệp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã có việc làm. Thực tế phản ánh lợi thế của mô hình đào tạo chú trọng kỹ năng thực hành và gắn chặt với nhu cầu tuyển dụng.

Không chỉ đào tạo kỹ năng nghề đơn thuần, nhiều trường đang chuyển sang mô hình “đào tạo kép”, trong đó doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo: từ xây dựng chương trình, cử chuyên gia giảng dạy đến tiếp nhận sinh viên thực tập và tuyển dụng. Nghiên cứu về hợp tác giữa trường nghề và doanh nghiệp cũng cho thấy các hình thức như xây dựng chương trình cùng doanh nghiệp, đào tạo tại nhà máy, hay đưa giảng viên tới môi trường sản xuất thực tế giúp nâng cao đáng kể chất lượng đầu ra.

Những mô hình đào tạo đang cho thấy hiệu quả

Một số cơ sở đào tạo tại Việt Nam đã chuyển động khá nhanh theo xu hướng này. Tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Sơn La, Chương trình đào tạo được thiết kế với 30% lý thuyết, 70% thực hành, trong đó có 20% thời gian thực tập tại các doanh nghiệp. 100% các nghề đã được xây dựng chương trình đào tạo mới theo hướng mở và nâng cao kỹ năng thực hành nghề; 100% các modul, môn học được biên soạn giáo trình theo hướng cập nhật phù hợp thực tiễn sản xuất, bám sát nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp và hội nhập quốc tế.

Tạp chí giáo dục
Ở một số lĩnh vực đặc thù như bán dẫn hay công nghệ cao, doanh nghiệp hiện không còn đứng ngoài quá trình đào tạo mà trở thành “đồng kiến tạo” chương trình học (Nguồn: Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Sơn La)

Bên cạnh đó, nhà trường cũng tập trung đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập đồng bộ theo từng nghề, bảo đảm cho học sinh, sinh viên được học tập, nghiên cứu. Đồng thời, duy trì mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, giúp học viên được thực hành thực tế, gắn đào tạo với tuyển dụng.

Mỗi năm, nhà trường liên kết đưa hàng trăm học viên đến thực tập trải nghiệm, thực tập tốt nghiệp tại các công ty lớn ngoài tỉnh, như: Công ty TNHH Yazaki Hải Phòng - Chi nhánh tại Thái Bình; Honda Việt Nam; Toyota Việt Nam, Công ty VAP (Hưng Yên); Công ty TNHH nguồn nhân lực Tâm Việt… Tỷ lệ học sinh, sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 90%.

Ở bậc đại học, xu hướng này cũng ngày càng rõ hơn. Đại học Bách khoa Hà Nội mở rộng hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong đào tạo AI, bán dẫn, kỹ thuật điện tử. Trường Đại học FPT xây dựng mô hình học kỳ doanh nghiệp, yêu cầu sinh viên tham gia môi trường làm việc thực tế trước khi tốt nghiệp. Nhiều trường khác như Đại học Phenikaa hay Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cũng tăng cường liên kết doanh nghiệp trong đào tạo công nghệ và kỹ thuật.

Đáng chú ý, ở một số lĩnh vực đặc thù như bán dẫn hay công nghệ cao, doanh nghiệp hiện không còn đứng ngoài quá trình đào tạo mà trở thành “đồng kiến tạo” chương trình học. Đây là sự thay đổi quan trọng bởi nhu cầu nhân lực trong các ngành này biến động rất nhanh, nếu chương trình đào tạo chậm cập nhật sẽ khó đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực hành

Một thời gian dài, giáo dục nghề nghiệp thường được nhắc tới như hướng đào tạo gắn với việc làm, còn đại học thiên về học thuật. Tuy nhiên, ranh giới này đang dần thay đổi. Các trường đại học nghiên cứu hiện nay cũng phải đối mặt với áp lực về khả năng có việc làm của sinh viên. Các bảng xếp hạng quốc tế ngày càng coi trọng tỷ lệ việc làm, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng hay năng lực đổi mới sáng tạo.

Điều đó buộc đại học phải chuyển dịch mạnh hơn sang đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và trải nghiệm thực tế. Không ít ngành học đang được thiết kế theo mô hình liên ngành, tích hợp kỹ năng công nghệ, ngoại ngữ, dữ liệu và khả năng thích ứng nghề nghiệp.

Sự thay đổi này đặc biệt rõ trong các ngành STEM. Khi Việt Nam đặt mục tiêu phát triển nhân lực công nghệ cao, đặc biệt ở các lĩnh vực như AI, vi mạch bán dẫn hay công nghệ số, đào tạo đại học không thể tiếp tục đi theo mô hình nặng lý thuyết, thiếu kết nối với doanh nghiệp. Nói cách khác, thị trường lao động đang tác động trực tiếp tới cấu trúc của hệ thống giáo dục.

Tuy xu hướng đào tạo gắn nhu cầu lao động là tất yếu, nhiều chuyên gia cũng cho rằng cần tránh cách hiểu cực đoan rằng giáo dục chỉ phục vụ tuyển dụng trước mắt. Nếu chỉ chạy theo nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp, chương trình đào tạo có thể nhanh chóng lạc hậu khi công nghệ thay đổi. Một nghề “hot” hôm nay có thể dư thừa sau vài năm. Vì vậy, giáo dục không chỉ đào tạo kỹ năng cụ thể mà còn phải hình thành năng lực học tập suốt đời, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng. Đây cũng là lý do nhiều quốc gia chuyển sang mô hình đào tạo dựa trên năng lực thay vì chỉ dựa trên kiến thức. Người học cần được trang bị nền tảng đủ rộng để có thể liên tục cập nhật kỹ năng mới trong suốt vòng đời nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, việc gắn đào tạo với thị trường lao động cũng không thể chỉ là trách nhiệm của nhà trường. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, còn cơ quan quản lý cần có hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực đủ tin cậy để định hướng ngành nghề. Thông tư mới về Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cũng nhấn mạnh yêu cầu quản trị dựa trên dữ liệu và gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động. Điều này cho thấy xu hướng chuyển từ quản lý theo đầu vào sang đánh giá hiệu quả đầu ra đang ngày càng rõ nét.

Thị trường lao động đang thay đổi theo tốc độ chưa từng có. Nhiều công việc mới xuất hiện, trong khi không ít nghề truyền thống có thể biến mất do tự động hóa và AI. Giáo dục không thể đứng ngoài chuyển động của nền kinh tế. Việc đào tạo gắn với nhu cầu thị trường không chỉ giúp sinh viên dễ tìm việc hơn mà còn góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận