Thứ Sáu , 29/05/2026 , 01:51:03 GMT+7

Liêm chính học thuật trong đại học: Kiến tạo văn hóa khoa học từ giá trị, năng lực và quản trị

Model?.data?.author?.Name
Vân An

Biên tập viên

Thứ Hai, 18/05/2026, 09:37:01 GMT+7

Liêm chính học thuật không thể được bảo đảm chỉ bằng lời kêu gọi đạo đức, cũng không thể được duy trì bền vững nếu chỉ dựa vào quy định, kiểm tra và xử lí vi phạm. Các phân tích gần đây về hành vi khoa học của giảng viên đại học cho thấy, chuẩn mực liêm chính được hình thành trong sự phối hợp giữa giá trị cá nhân, năng lực chuyên môn, nguồn lực học thuật, môi trường học thuật, hệ thống quản trị và giáo dục liêm chính. Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới, hội nhập và chuyển đổi số, xây dựng liêm chính học thuật cần được xem là một trụ cột của quản trị chất lượng đại học, gắn trực tiếp với uy tín khoa học, năng lực nghiên cứu và niềm tin xã hội đối với tri thức.

Liêm chính học thuật và yêu cầu tái thiết nền tảng văn hóa khoa học trong đại học

Liêm chính học thuật là nền tảng bảo đảm độ tin cậy của tri thức, uy tín của cơ sở giáo dục đại học và niềm tin của xã hội đối với khoa học. Về bản chất, liêm chính học thuật gắn với các chuẩn mực như trung thực, minh bạch, nghiêm cẩn, trách nhiệm và khả năng giải trình trong toàn bộ quá trình hình thành ý tưởng, thu thập dữ liệu, phân tích, công bố, thẩm định và sử dụng kết quả khoa học. Tuyên bố Singapore về liêm chính trong khoa học nhấn mạnh bốn nguyên tắc căn bản gồm trung thực, trách nhiệm giải trình, chuyên nghiệp và quản trị có trách nhiệm, đồng thời đặt ra các yêu cầu liên quan đến phương pháp, dữ liệu, quyền tác giả, công bố, phản biện, xung đột lợi ích và xử lí sai phạm (World Conference on Research Integrity, 2010).

Trong đời sống đại học hiện đại, liêm chính học thuật không còn là vấn đề có thể nhận diện đơn giản qua một vài hành vi quen thuộc như đạo văn, làm giả dữ liệu hay ghi tên tác giả không đúng đóng góp. Áp lực công bố, cạnh tranh học thuật, cơ chế đánh giá thiên về sản lượng, cùng sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm cho các rủi ro đạo đức trở nên phức tạp hơn. Chen, Tu và Esangbedo (2026) cho rằng các nguy cơ đối với liêm chính học thuật hiện nay không chỉ xuất hiện ở những vi phạm trực tiếp, mà còn gắn với những hình thức tinh vi hơn như nhập nhằng về quyền tác giả do công cụ trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đạo văn được hỗ trợ bởi công nghệ và các hành vi thiếu chuẩn mực trong môi trường số.

Nhiều tiếp cận trước đây thường lí giải liêm chính học thuật theo hai nhóm nguyên nhân: yếu tố cá nhân và yếu tố tổ chức. Ở bình diện cá nhân, các yếu tố thường được nhắc đến gồm nhận thức đạo đức, thiên hướng giá trị, động cơ học thuật, năng lực khoa học và phản ứng trước áp lực nghề nghiệp. Ở bình diện tổ chức, các yếu tố được chú ý gồm hệ thống đánh giá, cơ chế quản lí, chuẩn mực của đơn vị, vai trò lãnh đạo, môi trường học thuật và hoạt động đào tạo về liêm chính. Cách phân chia này có ý nghĩa nhất định, song chưa đủ để giải thích thực tế phức tạp trong các trường đại học, nơi hành vi của giảng viên thường được hình thành từ sự tương tác giữa phẩm chất cá nhân và điều kiện thể chế.

Một giảng viên có ý thức đạo đức tốt vẫn có thể đối diện rủi ro nếu thiếu năng lực phương pháp, thiếu nguồn lực hoặc làm việc trong môi trường đặt nặng thành tích ngắn hạn. Ngược lại, một hệ thống quy định được thiết kế chặt chẽ cũng có thể không phát huy hiệu lực nếu người thực hiện thiếu hiểu biết, thiếu động lực tuân thủ hoặc chứng kiến những hành vi thiếu chuẩn mực được dung thứ trong tổ chức. Do đó, vấn đề quan trọng không chỉ là xác định yếu tố nào ảnh hưởng đến liêm chính học thuật, mà là nhận diện những tổ hợp điều kiện làm cho liêm chính có thể được hình thành, duy trì hoặc bị suy yếu trong từng bối cảnh cụ thể.

Tạp chí giáo dục
Liêm chính học thuật không thể được bảo đảm bằng một giải pháp đơn tuyến: đạo đức cá nhân là nền tảng, nhưng cần năng lực để thực hành; quy định là cần thiết, nhưng cần môi trường học thuật để trở thành chuẩn mực sống động; công nghệ mở ra năng lực mới, nhưng cũng đòi hỏi những yêu cầu mới về minh bạch, quyền tác giả và trách nhiệm giải trình.

Cách tiếp cận cấu hình: Liêm chính học thuật không có "một con đường" duy nhất

Một hướng phân tích đáng chú ý hiện nay là tiếp cận liêm chính học thuật theo cấu hình. Thay vì xem xét tác động riêng rẽ của từng yếu tố, cách tiếp cận này phân tích cách các điều kiện kết hợp với nhau để tạo ra cùng một kết quả. Dựa trên dữ liệu từ 109 giảng viên đại học, Chen và cộng sự (2026) sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính tập mờ để xem xét sáu điều kiện: thiên hướng giá trị, nguồn lực học thuật, năng lực nghiên cứu, môi trường học thuật, hệ thống quản lí, giáo dục và tập huấn về liêm chính. Kết quả cho thấy không có điều kiện đơn lẻ nào là điều kiện bắt buộc để bảo đảm liêm chính học thuật; nói cách khác, không thể khẳng định chỉ cần đạo đức cá nhân, chỉ cần nguồn lực, chỉ cần năng lực, chỉ cần hệ thống quản lí hoặc chỉ cần tập huấn là đủ.

Phát hiện này có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng. Về lí luận, nó củng cố quan điểm cho rằng liêm chính học thuật là một hiện tượng phức hợp, được hình thành từ quan hệ giữa con người, tổ chức và bối cảnh. Về thực tiễn, nó cảnh báo các cơ sở giáo dục đại học không nên tuyệt đối hóa bất cứ biện pháp riêng lẻ nào. Nếu chỉ nhấn mạnh đạo đức cá nhân, nhà trường có thể bỏ qua vai trò của cơ chế đánh giá, nguồn lực và môi trường học thuật. Nếu chỉ nhấn mạnh quy định, nhà trường có thể hình thức hóa liêm chính thành hoạt động kiểm soát, trong khi chưa tạo được năng lực và động lực thực hành chuẩn mực trong cộng đồng học thuật.

Khung lí thuyết của cách tiếp cận này có thể được hiểu qua bốn nền tảng. Lí thuyết hệ thống mở xem giảng viên không phải là chủ thể biệt lập, mà là thành viên của một hệ thống luôn tương tác với môi trường tổ chức. Lí thuyết học tập xã hội nhấn mạnh rằng cá nhân hình thành chuẩn mực hành vi thông qua quan sát những gì được khen thưởng, được thừa nhận hoặc bị xử lí trong môi trường xung quanh. Lí thuyết thể chế làm rõ vai trò của áp lực chuẩn mực, tính chính danh và kỳ vọng tổ chức đối với hành vi học thuật. Lí thuyết cấu hình cho phép lí giải vì sao các tổ hợp điều kiện khác nhau có thể cùng dẫn đến liêm chính, đồng thời vì sao sự thiếu vắng một số điều kiện trong bối cảnh cụ thể có thể làm phát sinh nguy cơ vi phạm.

Từ cách nhìn này, liêm chính học thuật không phải là sản phẩm của một mệnh lệnh hành chính, cũng không phải là phẩm chất tự nhiên luôn ổn định ở mỗi cá nhân. Đó là kết quả của sự kết nối giữa giá trị, năng lực, nguồn lực, văn hóa tổ chức, cơ chế quản lí và giáo dục liêm chính. Cách tiếp cận cấu hình vì vậy giúp chuyển trọng tâm từ tư duy “ngăn ngừa sai phạm” sang tư duy “kiến tạo điều kiện cho hành vi đúng chuẩn”.

Giá trị cá nhân là nền tảng, nhưng không thể thay thế năng lực và điều kiện thực hành

Trong các cấu hình thúc đẩy liêm chính học thuật, thiên hướng giá trị của cá nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là yếu tố phản ánh mức độ giảng viên nội tâm hóa các chuẩn mực đạo đức, duy trì cam kết với sự trung thực học thuật và có khả năng đứng vững trước áp lực cạnh tranh. Chen và cộng sự (2026) cho thấy thiên hướng giá trị xuất hiện như một điều kiện trung tâm trong các con đường dẫn tới liêm chính, đồng thời sự suy giảm của yếu tố này thường gắn với các cấu hình rủi ro dẫn tới hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, giá trị cá nhân không thể thay thế toàn bộ các điều kiện còn lại. Một người coi trọng liêm chính vẫn cần năng lực khoa học để thực hành đúng chuẩn. Năng lực ấy bao gồm hiểu biết phương pháp, khả năng thiết kế đề tài, thu thập và xử lí dữ liệu, viết học thuật, trích dẫn, công bố có trách nhiệm, quản lí xung đột lợi ích và hiểu biết về quyền tác giả. Nếu thiếu những năng lực này, hành vi thiếu chuẩn mực có thể phát sinh không chỉ từ động cơ vụ lợi, mà còn từ sự lúng túng trong thực hành học thuật, đặc biệt ở nhóm giảng viên trẻ, học viên cao học và nghiên cứu sinh.

Nguồn lực học thuật cũng có vai trò không thể xem nhẹ. Theo Chen và cộng sự (2026), nguồn lực bao gồm kinh phí, điều kiện nghiên cứu, nền tảng dữ liệu, thiết bị, mạng lưới hợp tác và các hỗ trợ học thuật cần thiết. Khi yêu cầu công bố tăng lên nhưng nguồn lực và năng lực không tương xứng, áp lực thành tích có thể làm gia tăng nguy cơ tìm kiếm các giải pháp đối phó. Điều này cho thấy quản trị liêm chính học thuật không thể tách rời chính sách phát triển năng lực nghiên cứu và bảo đảm điều kiện làm việc cho giảng viên.

Nói cách khác, giá trị là điểm tựa bên trong, nhưng năng lực và nguồn lực là điều kiện để giá trị ấy được chuyển hóa thành hành vi. Một trường đại học nghiêm túc với liêm chính không chỉ yêu cầu giảng viên “không vi phạm”, mà cần giúp họ biết cách làm đúng, có điều kiện để làm đúng và được ghi nhận khi kiên trì với chuẩn mực khoa học.

Môi trường học thuật và tín hiệu quản trị: Khi quy định phải được "nâng đỡ" bằng văn hóa

Môi trường học thuật có vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi của giảng viên. Đây không chỉ là bầu không khí làm việc, mà là tổng hòa của các chuẩn mực được chia sẻ, kỳ vọng ứng xử, cách cộng đồng học thuật nhìn nhận thành công, cách lãnh đạo xử lí vi phạm và cách tổ chức phân bổ sự ghi nhận. Khi một đơn vị đề cao minh bạch, hợp tác, trách nhiệm và chất lượng, các chuẩn mực đó có thể tạo ra sức ép tích cực, giúp cá nhân duy trì hành vi đúng chuẩn ngay cả khi hệ thống quản lí chưa hoàn thiện.

Ngược lại, nếu môi trường học thuật dung thứ cho thành tích hình thức, ghi nhận đóng góp không thực chất, xem nhẹ quy trình hoặc chỉ quan tâm đến sản phẩm cuối cùng, quy định chính thức sẽ dễ mất hiệu lực. Chen và cộng sự (2026) nhấn mạnh vai trò của tín hiệu lãnh đạo và thiết kế hệ thống khen thưởng. Khi lãnh đạo xử lí sai phạm công bằng, nhất quán giữa lời nói và hành động, đồng thời phân bổ nguồn lực theo chất lượng học thuật, họ truyền đi tín hiệu đạo đức rõ ràng cho tổ chức. Trái lại, nếu lãnh đạo chỉ nhấn mạnh kết quả đo đếm được mà xem nhẹ quy trình tuân thủ, hệ thống quy định có thể tồn tại nhưng khó phát huy giá trị trong thực tiễn.

Điều này đặc biệt quan trọng trong các trường đại học đang chịu áp lực nâng cao công bố khoa học, cải thiện xếp hạng, mở rộng hợp tác quốc tế và tăng năng suất nghiên cứu. Nếu hệ thống đánh giá chỉ coi trọng số lượng bài báo, số đề tài, điểm công bố hoặc các thước đo định lượng, nhà trường có thể vô tình tạo ra môi trường khuyến khích kết quả ngắn hạn hơn sự nghiêm cẩn học thuật. Roje và cộng sự (2023), qua tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến thúc đẩy và triển khai liêm chính khoa học trong tổ chức thực hiện và tài trợ nghiên cứu, cũng cho thấy liêm chính chịu tác động đồng thời của cá nhân, tổ chức và hệ thống khoa học rộng hơn. Cách nhìn này tương thích với lập luận rằng văn hóa học thuật và cơ chế tổ chức phải được thiết kế như một chỉnh thể, thay vì chỉ xử lí từng hành vi vi phạm riêng lẻ.

Tạp chí giáo dục
Một trường đại học có chất lượng không chỉ là nơi tạo ra nhiều sản phẩm khoa học, mà là nơi tri thức được kiến tạo bằng phương pháp đáng tin cậy, dữ liệu có trách nhiệm, tác giả trung thực, quy trình minh bạch và văn hóa tôn trọng sự thật.

Giáo dục liêm chính học thuật: Từ phổ biến quy định đến phát triển năng lực đạo đức nghề nghiệp

Giáo dục và tập huấn về liêm chính là một thành tố quan trọng trong quản trị đại học. Trong các cấu hình tích cực, giáo dục liêm chính có thể bù đắp phần nào khi hệ thống quản lí chưa phát triển đầy đủ, giúp giảng viên củng cố giá trị, hiểu chuẩn mực và có công cụ xử lí các tình huống đạo đức trong thực hành khoa học. Tuy nhiên, Chen và cộng sự (2026) cũng cảnh báo rằng nếu giáo dục liêm chính bị tách khỏi nền tảng giá trị, hoặc bị biến thành hoạt động hình thức phục vụ hồ sơ, hiệu quả của nó có thể suy giảm.

Vì vậy, giáo dục liêm chính không nên dừng lại ở việc nhắc lại các hành vi bị nghiêm cấm. Một chương trình có chất lượng cần giúp người học và giảng viên hiểu vì sao chuẩn mực tồn tại, chuẩn mực được áp dụng như thế nào trong từng chuyên ngành, và cần xử lí ra sao khi đối diện với các tình huống có ranh giới phức tạp. Những vấn đề như đồng tác giả, tự đạo văn, công bố trùng lặp, quản lí dữ liệu, sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh, xung đột lợi ích, phản biện kín và bảo mật thông tin cần được đưa vào tình huống thực tiễn thay vì chỉ nêu dưới dạng quy định.

Với sinh viên, giáo dục liêm chính cần bắt đầu từ cách sử dụng tài liệu, trích dẫn, làm việc nhóm, tôn trọng quyền tác giả và sử dụng công cụ số có trách nhiệm. Với học viên cao học và nghiên cứu sinh, cần chú trọng quản lí dữ liệu, đạo đức công bố, trách nhiệm tác giả, thiết kế nghiên cứu và công bố minh bạch. Với giảng viên, nội dung cần đi sâu hơn vào chuẩn mực hướng dẫn người học, quản trị nhóm nghiên cứu, công bố quốc tế, sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong viết và phân tích, cũng như ứng xử trong hợp tác học thuật. Giáo dục liêm chính, do đó, cần được xem như một năng lực nghề nghiệp của cộng đồng đại học.

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và yêu cầu mở rộng quản trị liêm chính trong môi trường số

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi đáng kể phương thức tìm kiếm tài liệu, xử lí ngôn ngữ, tạo bản thảo, phân tích dữ liệu và chuẩn bị công bố. Công nghệ có thể hỗ trợ hoạt động học thuật, nhưng cũng đặt ra những câu hỏi mới về quyền tác giả, mức độ đóng góp thực chất, tính minh bạch của quy trình, bảo mật dữ liệu và trách nhiệm đối với nội dung cuối cùng.

Bittle và El-Gayar (2025) cho rằng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt ra một chương trình nghị sự mới về liêm chính học thuật trong giáo dục đại học, đặc biệt liên quan đến ranh giới giữa hỗ trợ hợp lệ và hành vi thiếu trung thực. Chen và cộng sự (2026) cũng nhận định rằng các hệ thống quản lí truyền thống, vốn chủ yếu chú trọng kiểm tra sản phẩm sau cùng, có thể không còn đủ để ứng phó với các hình thức sai phạm trong môi trường số.

Do đó, quản trị liêm chính trong kỷ nguyên số cần mở rộng từ kiểm tra sản phẩm sang quản trị quy trình. Các trường đại học cần có quy định rõ ràng về phạm vi sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh, yêu cầu công bố mức độ hỗ trợ, trách nhiệm của tác giả, bảo mật dữ liệu, nguyên tắc sử dụng công cụ số trong học tập và khoa học. Đây không chỉ là vấn đề kĩ thuật, mà là vấn đề văn hóa học thuật và trách nhiệm khoa học.

Tại Việt Nam, Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Khung năng lực số cho người học, có hiệu lực từ ngày 11/3/2025, là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục cụ thể hóa yêu cầu sử dụng công nghệ có trách nhiệm trong học tập, nghiên cứu và công bố học thuật. Văn bản này quy định Khung năng lực số cho người học, tạo nền tảng để nhà trường tích hợp năng lực số với liêm chính học thuật trong chương trình đào tạo và hoạt động bảo đảm chất lượng.

Khuyến nghị cho giáo dục đại học Việt Nam: Kiến tạo hệ sinh thái liêm chính gắn với đổi mới và hội nhập

Đối với Việt Nam, liêm chính học thuật cần được đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, phát triển khoa học, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, là căn cứ chính sách quan trọng cho định hướng nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hệ thống giáo dục, trong đó chất lượng, hiệu quả, hiện đại hóa và hội nhập là những định hướng có liên quan trực tiếp đến quản trị đại học. Trong bối cảnh đó, liêm chính học thuật không nên được xem là một nội dung phụ trợ, mà cần trở thành thành phần cốt lõi của quản trị chất lượng, phát triển đội ngũ và xây dựng uy tín đại học.

Trước hết, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng khung liêm chính học thuật ở cấp trường theo hướng tích hợp. Khung này cần bao gồm chuẩn mực về dữ liệu, trích dẫn, quyền tác giả, đồng tác giả, công bố, phản biện, sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh, xung đột lợi ích và trách nhiệm giải trình. Các quy định cần rõ ràng, có ví dụ minh họa, có hướng dẫn theo từng nhóm hoạt động như học tập, luận văn, luận án, đề tài khoa học, bài báo, giáo trình và sản phẩm học thuật số. Một quy định quá chung sẽ khó triển khai; một quy định quá nặng về xử lí nhưng thiếu hướng dẫn sẽ dễ tạo tâm lí đối phó.

Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá giảng viên và nhà khoa học cần được điều chỉnh theo hướng cân bằng giữa sản lượng và chất lượng. Nếu đánh giá chủ yếu dựa vào số bài báo, số đề tài hoặc điểm công bố, nhà trường có thể vô tình tạo ra áp lực khiến một bộ phận giảng viên ưu tiên kết quả ngắn hạn hơn sự nghiêm cẩn khoa học. Cần từng bước đưa vào các tiêu chí về chất lượng đóng góp, vai trò tác giả, dữ liệu minh bạch, tác động học thuật phù hợp với chuyên ngành, đóng góp cho đào tạo, phản biện khoa học, chuyển giao tri thức và phát triển cộng đồng học thuật. Cơ chế khen thưởng cần truyền đi thông điệp rằng chất lượng, tính trung thực và trách nhiệm khoa học quan trọng không kém sản phẩm công bố.

Các trường đại học cũng cần phát triển chương trình giáo dục liêm chính học thuật theo từng nhóm đối tượng. Với sinh viên, nội dung cần gắn với trích dẫn, sử dụng tài liệu, làm việc nhóm và sử dụng công cụ số có trách nhiệm. Với học viên cao học và nghiên cứu sinh, cần bổ sung quản lí dữ liệu, đạo đức công bố, đồng tác giả, xung đột lợi ích, công bố trùng lặp và trách nhiệm giải trình. Với giảng viên, chương trình cần tập trung vào hướng dẫn người học, quản trị nhóm nghiên cứu, phản biện khoa học, công bố quốc tế, sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh và xử lí các tình huống đạo đức trong hợp tác học thuật. Cách tổ chức nên dựa trên tình huống, thảo luận và tư vấn chuyên môn, thay vì chỉ phổ biến văn bản.

Một khuyến nghị quan trọng khác là bảo đảm nguồn lực và hỗ trợ năng lực cho giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ. Nếu nhà trường yêu cầu công bố chất lượng nhưng không có hỗ trợ về phương pháp, ngôn ngữ học thuật, thống kê, quản lí dữ liệu, quỹ nghiên cứu nhỏ, tư vấn công bố hoặc hạ tầng thư viện, thì yêu cầu liêm chính dễ trở thành áp lực đơn phương. Một hệ sinh thái liêm chính cần có trung tâm hỗ trợ học thuật, nhóm tư vấn phương pháp, thư viện số, học liệu về đạo đức khoa học và cơ chế cố vấn cho người mới tham gia nghiên cứu. Đầu tư cho năng lực không chỉ nâng cao chất lượng công bố, mà còn giảm rủi ro vi phạm do thiếu hiểu biết hoặc thiếu điều kiện thực hành đúng chuẩn.

Đồng thời, cơ chế xử lí vi phạm cần bảo đảm công bằng, minh bạch và có giá trị giáo dục. Liêm chính học thuật không thể duy trì nếu vi phạm bị bỏ qua, xử lí tùy tiện hoặc phụ thuộc vào vị thế của người vi phạm. Các trường cần có quy trình tiếp nhận phản ánh, thẩm định, bảo vệ người báo cáo thiện chí, bảo đảm quyền giải trình và đưa ra biện pháp phù hợp với tính chất sự việc. Cần phân biệt giữa lỗi do thiếu năng lực, lỗi do cẩu thả, lỗi có hệ thống và hành vi gian dối có chủ ý để có cách xử lí tương xứng. Mục tiêu của quản trị liêm chính không chỉ là xử lí, mà còn là khôi phục chuẩn mực, ngăn ngừa tái diễn và củng cố niềm tin trong cộng đồng học thuật.

Cuối cùng, các trường đại học Việt Nam cần sớm ban hành hướng dẫn sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong đào tạo và khoa học. Hướng dẫn này cần làm rõ công cụ nào có thể được sử dụng, mức độ hỗ trợ nào cần công bố, phần việc nào không được giao cho công cụ tạo sinh, dữ liệu nào không được đưa vào hệ thống bên ngoài, tác giả chịu trách nhiệm ra sao đối với nội dung cuối cùng và giảng viên đánh giá sản phẩm học thuật như thế nào trong bối cảnh công cụ số ngày càng phổ biến. Việc cụ thể hóa Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT trong môi trường đại học sẽ giúp kết nối năng lực số với liêm chính học thuật, thay vì xem hai nội dung này là hai mảng tách rời.

Liêm chính học thuật là năng lực trưởng thành của đại học

Liêm chính học thuật không thể được bảo vệ bằng một giải pháp đơn tuyến. Đạo đức cá nhân là nền tảng, nhưng cần năng lực để chuyển hóa thành hành vi đúng chuẩn. Quy định là cần thiết, nhưng cần môi trường học thuật để trở thành chuẩn mực sống động. Tập huấn có ý nghĩa, nhưng phải gắn với giá trị, tình huống và hỗ trợ thực tế. Công nghệ mở ra năng lực mới, nhưng cũng đòi hỏi những chuẩn mực mới về minh bạch, quyền tác giả và trách nhiệm giải trình.

Đối với giáo dục đại học Việt Nam, xây dựng liêm chính học thuật cần được xem là một chỉ dấu về sự trưởng thành của quản trị đại học. Một trường đại học có chất lượng không chỉ là nơi tạo ra nhiều sản phẩm khoa học, mà là nơi tri thức được kiến tạo bằng phương pháp đáng tin cậy, dữ liệu có trách nhiệm, tác giả trung thực, quy trình minh bạch và văn hóa tôn trọng sự thật. Khi liêm chính trở thành năng lực của cả hệ thống, uy tín học thuật mới có nền tảng bền vững để phát triển trong tiến trình đổi mới, hội nhập và chuyển đổi số.

Tài liệu tham khảo

Bittle, K., & El-Gayar, O. (2025). Generative AI and academic integrity in higher education: A systematic review and research agenda. Information, 16, 296.

Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học.

Chen, Z., Tu, B., & Esangbedo, M. O. (2026). Toward contextualized research integrity in higher education: A fuzzy-set analysis of individual and organizational configurations among university faculty. Scientific Reports.

Fiss, P. C. (2011). Building better causal theories: A fuzzy set approach to typologies in organization research. Academy of Management Journal, 54, 393–420.

Olesen, A. P., Amin, L., Mahadi, Z., & Ibrahim, M. (2022). Exploring the organisational context of research misconduct in higher learning institutions in Malaysia. Developing World Bioethics, 22, 76–85.

Ragin, C. C. (2014). The Comparative Method: Moving Beyond Qualitative and Quantitative Strategies. University of California Press.

Roje, R., Elizondo, A. R., Kaltenbrunner, W., Buljan, I., & Marušić, A. (2023). Factors influencing the promotion and implementation of research integrity in research performing and research funding organizations: A scoping review. Accountability in Research, 30, 633–671.

Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

World Conference on Research Integrity. (2010). Singapore Statement on Research Integrity.

PV/BTV

Nguyễn Lê Vân An

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận