Thứ Sáu , 03/04/2026 , 22:32:33 GMT+7

Mười nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của ngành Giáo dục - Năm bản lề mở đầu cho đột phá giáo dục nhiệm kỳ 2026–2030

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Ba, 30/12/2025, 09:15:14 GMT+7

Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026–2030 và nhiều luật nền tảng của ngành Giáo dục chính thức có hiệu lực. Trong bối cảnh đó, việc xác định rõ định hướng nhiệm kỳ và các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026 không chỉ mang ý nghĩa trước mắt mà còn đặt nền móng cho sự phát triển bền vững, lâu dài của ngành Giáo dục Việt Nam.

Định hướng xuyên suốt nhiệm kỳ 2026 – 2030

Trong nhiệm kỳ 2026 - 2030, Bộ GDĐT tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; cụ thể hóa các luật: Luật Nhà giáo, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) thành các cơ chế, chính sách cụ thể để triển khai trong toàn ngành.

Tạp chí giáo dục
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn phát biểu ghi nhận thành tựu Nhiệm kỳ 2021-2025 và chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. Ảnh: Đình Tuệ - GDTĐ

Đồng thời, Bộ GDĐT sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức rà soát, triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục, đào tạo trong cả nước bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 và các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước để tạo đột phá trong đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng toàn diện các hoạt động giáo dục và đào tạo.

Mười nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

Trên cơ sở các định hướng chiến lược, Bộ GDĐT xác định 10 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026, vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và đổi mới quản trị giáo dục

Theo đó, tiếp tục đổi mới, tạo đột phá trong công tác xây dựng pháp luật về giáo dục và đào tạo; thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Nghị quyết số 71-NQ/TW; Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các văn bản khác của Đảng về giáo dục và đào tạo. Tập trung nguồn lực để triển khai thi hành Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) và các quy định về quản lý giáo dục theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.

Triển khai thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; tiếp tục phát triển Chương trình giáo dục mầm non, đổi mới phương pháp, hình thức nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm tính khoa học, sư phạm; thực hiện hiệu quả hướng dẫn dạy học 2 buổi/ngày đối với các cơ sở giáo dục phổ thông có đủ điều kiện theo quy định. nâng cao chất lượng giáo dục STEM/STEAM, giáo dục phát triển năng lực số, giáo dục sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI),

Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập suốt đời theo hướng đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, từng địa phương.

Thứ ba, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục có chất lượng.

Ngành Giáo dục ưu tiên đầu tư cho vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; phát triển giáo dục hòa nhập; đẩy mạnh xóa mù chữ và hỗ trợ học sinh yếu thế, học sinh dân tộc thiểu số; triển khai thực hiện chủ trương hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở các xã biên giới đất liền từ năm học 2025 - 2026.

Đồng thời, Triển khai hiệu quả công tác dạy tiếng Việt cho trẻ em trước khi vào lớp Một đối với con, em người dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng dạy học các môn tiếng dân tộc thiểu số trong Chương trình giáo dục phổ thông.

Thứ tư, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý.

Việc triển khai Luật Nhà giáo tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng chính sách thu hút, giữ chân giáo viên. Tiếp tục phối hợp với Bộ Nội vụ rà soát số lượng chỉ tiêu biên chế và số lượng giáo viên hiện có của các địa phương để báo cáo Trung ương bổ sung biên chế ngành giáo dục giai đoạn 2026 - 2030. Tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các địa phương trong việc tổ chức tuyển dụng hết số biên chế được cấp có thẩm quyền giao và khắc phục tình trạng thiếu giáo viên các cấp học

Thứ năm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và huy động nguồn lực xã hội.

Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nhất là nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, đề án, dự án đã được phê duyệt cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Ngành Giáo dục tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, phát triển mạng lưới trường, lớp và bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định; tiếp tục kiên cố hóa trường lớp học, xóa phòng học tạm; phát triển trường, lớp học ở các khu vực có dân số tăng nhanh, khu vực đông dân cư; xây dựng trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia; đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất và tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Thứ sáu, đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng, quốc phòng – an ninh, thể chất và y tế học đường.

Triển khai hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong trường học; giáo dục học sinh, sinh viên lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cơ sở giáo dục, chú trọng công tác phát triển Đảng trong học sinh, sinh viên. Mục tiêu là xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh; phát triển toàn diện thể chất, tinh thần và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.

Thứ bảy, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.

Triển khai thực hiện hiệu quả Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, thống nhất cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong hoạt động chuyên môn, quản trị nội bộ và hợp tác quốc tế, gắn với thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch thông tin theo quy định.

Thứ tám, tăng cường hội nhập quốc tế về giáo dục.

Thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nước ngoài cho giáo dục và đào tạo và thu hút các cơ sở giáo dục đại học có uy tín đặt phân hiệu tại Việt Nam.Tăng cường phối hợp với các đối tác chiến lược để mở rộng chương trình đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các ngành nghề công nghệ cao, kỹ thuật, du lịch và dịch vụ. Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp FDI, hiệp hội nghề nghiệp để xây dựng các chương trình chuyển giao công nghệ đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, đồng thời thúc đẩy việc công nhận kỹ năng và chứng chỉ nghề giữa Việt Nam và các nước.

Tích cực tham gia các chương trình đánh giá chất lượng giáo dục quốc tế mà Việt Nam đã cam kết đối với giáo dục cấp tiểu học, trung học phổ thông (gồm SEA-PLM, PISA, TALIS) chu kỳ 2024, 2025; khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam tham gia các chương trình đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo, xếp hạng của các tổ chức uy tín trong khu vực và quốc tế.

Thứ chín, đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính.

Khẩn trương hoàn thiện các cơ sở dữ liệu của ngành, bảo đảm kết nối, liên thông dữ liệu trong nội bộ ngành với các cơ sở dữ liệu quốc gia, đặc biệt cơ sở dữ liệu phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Triển khai đồng bộ, hiệu quả học bạ số ở cấp phổ thông và văn bằng số đối với bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, văn bằng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Tổ chức thực hiện Chiến lược ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; áp dụng Khung năng lực số và nâng cao năng lực số cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và người học.

Thứ mười, thực hiện hiệu quả các phong trào thi đua và công tác truyền thông.

Triển khai có hiệu quả Phong trào thi đua "Toàn ngành Giáo dục thi đua đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước" giai đoạn 2025 - 2030 và các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động: Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023 - 2030; cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và Bình dân học vụ số.

Mười nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 không chỉ là kế hoạch hành động của riêng một năm, mà còn là bước khởi đầu quyết định cho việc hiện thực hóa tầm nhìn giáo dục Việt Nam giai đoạn 2026–2030. Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và toàn xã hội, ngành Giáo dục Việt Nam được kỳ vọng sẽ tạo ra đột phá thực chất, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận