Thứ Sáu , 29/05/2026 , 05:50:16 GMT+7

Quốc tế hóa hoạt động khoa học trong đại học: Từ hợp tác học thuật đến phát triển năng lực của giảng viên

Model?.data?.author?.Name
Vân An

Biên tập viên

Thứ Năm, 07/05/2026, 10:02:13 GMT+7

Trong bối cảnh giáo dục đại học chịu sức ép ngày càng lớn về chất lượng đào tạo, năng lực khoa học, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, hợp tác học thuật xuyên biên giới không còn là hoạt động đối ngoại mang tính bổ trợ. Với giảng viên, quốc tế hóa hoạt động khoa học gắn trực tiếp với điều kiện làm việc, cơ hội tiếp cận tri thức mới, khả năng công bố, uy tín nghề nghiệp và trách nhiệm đóng góp cho nhà trường, ngành học, xã hội. Từ các phân tích gần đây về động cơ quốc tế hóa của giảng viên đại học, có thể thấy quốc tế hóa chỉ có ý nghĩa bền vững khi được quản trị như một quá trình phát triển năng lực học thuật, thay vì chỉ được quy về số lượng thỏa thuận hợp tác, dự án hay bài báo quốc tế.

Quốc tế hóa đại học cần được nhìn từ hoạt động khoa học của giảng viên

Trong nhiều chiến lược phát triển giáo dục đại học, quốc tế hóa thường được nhận diện qua các biểu hiện quen thuộc: hợp tác với cơ sở đào tạo nước ngoài, trao đổi giảng viên và người học, chương trình liên kết, hội thảo quốc tế, công bố trên tạp chí có uy tín, hoặc vị trí của đại học trong các bảng xếp hạng. Những biểu hiện ấy cần thiết, bởi chúng phản ánh mức độ tham gia của nhà trường vào đời sống học thuật toàn cầu. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn quốc tế hóa từ hệ thống hồ sơ, báo cáo và thành tích, người ta dễ bỏ qua một câu hỏi căn bản hơn: giảng viên, với tư cách chủ thể trực tiếp tạo ra tri thức, tham gia hợp tác quốc tế vì những lí do nào và trong những điều kiện nào?

Các lí thuyết về quốc tế hóa giáo dục đại học từ lâu đã nhấn mạnh rằng quá trình này không bắt nguồn từ một động cơ duy nhất. Aigner, Nelson và Stimpfl (1992) từng đề cập đến các lí do liên quan đến an ninh quốc tế, năng lực cạnh tranh kinh tế và hiểu biết liên văn hóa. Knight (1997, 2008) và de Wit (2000) hệ thống hóa các nhóm lí do học thuật, văn hóa – xã hội, chính trị và kinh tế trong quốc tế hóa đại học. Ở bình diện khoa học, Georghiou (1998) cho rằng hợp tác quốc tế có thể đem lại cả lợi ích trực tiếp cho chất lượng, quy mô, tốc độ thực hiện công trình, lẫn lợi ích gián tiếp về nguồn lực, uy tín và định vị chiến lược. Những luận điểm này cho thấy quốc tế hóa không phải là hoạt động đơn tuyến, mà là một quá trình đa mục tiêu, chịu ảnh hưởng đồng thời của nhu cầu học thuật, lợi ích thể chế và điều kiện xã hội.

Tuy nhiên, khi chuyển từ chiến lược của nhà trường sang đời sống nghề nghiệp của giảng viên, quốc tế hóa hiện lên cụ thể hơn. Một số phân tích diễn ngôn về giảng viên đại học Honduras xác định năm nhóm động cơ nổi bật trong quốc tế hóa hoạt động khoa học: phát triển nghề nghiệp, cam kết đạo đức – chính trị, tìm kiếm nguồn lực tài chính, uy tín học thuật và gắn kết văn hóa – xã hội (Zelaya-Perdomo & Montañés-Serrano, 2026). Các nhóm động cơ này không tồn tại tách biệt, mà thường đan xen trong cùng một lựa chọn học thuật: một dự án quốc tế có thể đồng thời giúp giảng viên tìm kinh phí, nâng cao năng lực phương pháp, mở rộng công bố, đào tạo học viên và củng cố vị thế của đơn vị chuyên môn.

Cách nhìn nhận đặc biệt có ý nghĩa đối với các hệ thống giáo dục đại học còn hạn chế về hạ tầng khoa học. Trong những bối cảnh như vậy, hợp tác quốc tế không đơn giản là “mở rộng quan hệ” hay “tăng hiện diện quốc tế”. Đó có thể là con đường để giảng viên có điều kiện thực hiện đề tài, tiếp cận thiết bị, học hỏi phương pháp, được phản biện bởi cộng đồng chuyên môn và đưa vấn đề địa phương vào thảo luận học thuật rộng hơn. Nói cách khác, quốc tế hóa chỉ có giá trị thực chất khi nó cải thiện điều kiện làm khoa học và tạo thêm năng lực cho nhà trường.

Tạp chí giáo dục
Quốc tế hóa không nên được hiểu như một nội dung bổ sung trong hồ sơ phát triển của trường đại học, mà phải trở thành năng lực học thuật được bồi đắp trong từng giảng viên, từng nhóm chuyên môn và từng thiết chế đại học.

Nguồn lực tài chính: điều kiện vật chất của chất lượng khoa học

Một trong những động cơ quan trọng thúc đẩy giảng viên tìm đến hợp tác quốc tế là nhu cầu về nguồn lực. Hoạt động khoa học không thể chỉ dựa trên nhiệt huyết cá nhân. Đằng sau một công trình có chất lượng là kinh phí cho thiết bị, phần mềm, cơ sở dữ liệu, khảo sát thực địa, phòng thí nghiệm, hội thảo, biên tập học thuật, công bố và duy trì nhóm chuyên môn. Khi nguồn lực trong nước hạn chế, hợp tác quốc tế trở thành một con đường quan trọng để giảng viên có thể triển khai ý tưởng học thuật một cách nghiêm túc.

Trong trường hợp Honduras, nhiều giảng viên cho biết kinh phí dành cho hoạt động khoa học tại đơn vị còn hạn hẹp, trong khi ngân sách thường ưu tiên lương và chi thường xuyên. Vì vậy, họ tìm đến các nguồn tài trợ, mạng lưới và đối tác quốc tế để có điều kiện tiến hành khảo sát, trang bị thiết bị, tổ chức hoạt động chuyên môn và phổ biến kết quả (Zelaya-Perdomo & Montañés-Serrano, 2026). Điều này phù hợp với nhận định của Knight (2008) rằng yếu tố kinh tế là một trong những động lực quan trọng của quốc tế hóa ở cấp cơ sở giáo dục đại học, nhưng cần được hiểu rộng hơn là khả năng bảo đảm nguồn lực cho thực thi sứ mạng học thuật.

Điều cần lưu ý là động cơ tài chính không nên bị diễn giải hẹp như biểu hiện của thương mại hóa tri thức. Với giảng viên, nguồn lực là điều kiện để bảo đảm chất lượng khoa học. Không có kinh phí cho dữ liệu, thiết bị, phương pháp và phổ biến kết quả, những ý tưởng học thuật khó vượt khỏi phạm vi cá nhân. Không có cơ chế hỗ trợ ổn định, hợp tác quốc tế dễ phụ thuộc vào một số cá nhân có quan hệ riêng, thay vì trở thành năng lực chung của khoa, viện hoặc trường.

Ở khía cạnh quản trị, vấn đề không chỉ là có hay không có kinh phí. Nhiều rào cản xuất hiện trong chính quy trình sử dụng nguồn lực: thủ tục tiếp nhận tài trợ, mua sắm, thanh toán, mời chuyên gia, kí kết thỏa thuận và quản lí dự án. Nếu quy trình nội bộ kéo dài, thiếu linh hoạt hoặc thiếu hướng dẫn chuyên nghiệp, giảng viên có thể mất cơ hội hợp tác, kể cả khi đối tác quốc tế đã sẵn sàng hỗ trợ. Vì vậy, quản trị tài chính trong đại học cần vừa bảo đảm minh bạch, vừa tôn trọng đặc thù của hoạt động khoa học, trong đó tính kịp thời, quyền chủ động chuyên môn và trách nhiệm giải trình phải được đặt trong quan hệ cân bằng.

Cam kết học thuật và trách nhiệm xã hội của giảng viên

Quốc tế hóa hoạt động khoa học không chỉ được thúc đẩy bởi nhu cầu kinh phí. Một động cơ có chiều sâu hơn là cam kết với chất lượng học thuật, sự phát triển của nhà trường và lợi ích công. Turner và Robson (2007) cho rằng, trong khi các chính sách quốc gia và thể chế đôi khi nhấn mạnh cạnh tranh, thị trường và định vị, nhiều giảng viên lại lí giải hoạt động quốc tế của mình bằng các giá trị hợp tác, chia sẻ tri thức và tinh thần học thuật quốc tế. Finkelstein, Walker và Chen (2013) cũng nhấn mạnh rằng giá trị cá nhân và ưu tiên nghề nghiệp của giảng viên có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ quốc tế hóa hoạt động khoa học.

Trong các phân tích về giảng viên Honduras, động cơ trách nhiệm thể hiện ở mong muốn đào tạo đội ngũ, nâng chuẩn phương pháp, phát triển nhóm chuyên môn, hỗ trợ học viên sau đại học, mời chuyên gia quốc tế tập huấn, tổ chức seminar, cải thiện chất lượng tạp chí địa phương và nâng cao năng lực của nhà trường trong kiểm định hoặc xếp hạng (Zelaya-Perdomo & Montañés-Serrano, 2026). Những hoạt động ấy cho thấy hợp tác quốc tế không chỉ đem lại lợi ích cho cá nhân giảng viên. Khi được tổ chức tốt, nó trở thành kênh chuyển giao năng lực, giúp nhà trường bồi đắp đội ngũ và tạo dựng môi trường học thuật nghiêm túc hơn.

Đây là điểm thường bị bỏ qua trong đánh giá quốc tế hóa. Một giảng viên mời được chuyên gia quốc tế phản biện đề cương cho học viên, tổ chức nhóm đọc chung, hỗ trợ đồng nghiệp trẻ viết bài, hoặc đưa sinh viên sau đại học tham gia dự án hợp tác có thể tạo ra giá trị lâu dài cho đơn vị. Những đóng góp ấy không phải lúc nào cũng dễ lượng hóa ngay, nhưng lại là nền móng của năng lực khoa học bền vững. Nếu nhà trường chỉ ghi nhận bài báo cuối cùng mà không ghi nhận quá trình tạo lập cộng đồng học thuật, chính sách khuyến khích quốc tế hóa sẽ trở nên thiếu đầy đủ.

Vì vậy, quốc tế hóa cần được gắn với phát triển đội ngũ. Một chuyên gia nước ngoài được mời đến không chỉ để thuyết trình, mà còn có thể hỗ trợ xây dựng học phần, góp ý đề cương, hướng dẫn phương pháp, phản biện bản thảo, kết nối nhóm chuyên môn và hình thành chuẩn mực làm việc mới. Một dự án quốc tế không chỉ đáng giá vì có đối tác nước ngoài, mà vì nó để lại kinh nghiệm quản lí, năng lực học thuật và mạng lưới chuyên môn cho nhà trường sau khi dự án kết thúc.

Tạp chí giáo dục
Một đại học hội nhập không được đo trước hết bằng số lượng đối tác quốc tế, mà bằng khả năng tham gia đối thoại học thuật bình đẳng, tạo ra tri thức có giá trị và chịu trách nhiệm với chất lượng khoa học của mình.

Uy tín học thuật: động lực cần thiết nhưng phải được đặt trong sứ mạng đại học

Uy tín học thuật là một động lực chính đáng của giảng viên. Trong môi trường khoa học, nhà nghiên cứu cần được cộng đồng chuyên môn thẩm định, phản biện và ghi nhận. Công bố quốc tế, đồng tác giả với học giả nước ngoài, trích dẫn, tham gia mạng lưới chuyên ngành và hiện diện trong các tạp chí có uy tín đều góp phần xây dựng vị thế nghề nghiệp của giảng viên cũng như danh tiếng học thuật của cơ sở giáo dục đại học.

Woldegiyorgis và cộng sự (2018) cho rằng quốc tế hóa hoạt động khoa học thường gắn với mong muốn tăng sản lượng công bố, nâng mức độ trích dẫn, củng cố uy tín cá nhân và phát triển sự nghiệp học thuật. Wagner (2006) cũng nhấn mạnh rằng hợp tác quốc tế giúp nhà khoa học trao đổi ý tưởng, mở rộng năng lực bổ trợ và gia tăng ảnh hưởng của công trình. Trong bối cảnh các tạp chí trong nước chưa đồng đều về chuẩn chỉ mục, công bố ở những tạp chí quốc tế có uy tín trở thành một con đường quan trọng để tri thức được tiếp nhận trong cộng đồng rộng hơn.

Tuy nhiên, uy tín học thuật cần được quản trị bằng một quan niệm thận trọng. Nếu quốc tế hóa chỉ được đo bằng số bài báo, vị trí tạp chí hoặc trích dẫn, các cơ sở giáo dục đại học dễ tạo áp lực ngắn hạn lên giảng viên. Khi đó, những đóng góp có ý nghĩa cho đào tạo, dữ liệu địa phương, thực hành giáo dục, tư vấn chính sách, phát triển tạp chí trong nước hoặc xây dựng nhóm chuyên môn có thể không được đánh giá tương xứng. De Wit (2000) từng lưu ý rằng các lí do quốc tế hóa thường thay đổi theo thời gian và có thể mang tính ngầm định trong chính sách. Vì vậy, nếu nhà trường không làm rõ mục tiêu học thuật của quốc tế hóa, các thước đo bên ngoài có thể dần thay thế sứ mạng bên trong của đại học.

Điều cần hướng tới không phải là hạ thấp vai trò của công bố quốc tế, mà là đặt công bố trong một hệ sinh thái đánh giá rộng hơn. Một bài báo quốc tế có giá trị hơn nếu nó hình thành từ nhóm chuyên môn trong nước, có sự tham gia của học viên, sử dụng dữ liệu được thu thập nghiêm túc, giải quyết vấn đề có ý nghĩa và mở ra hợp tác tiếp theo. Uy tín học thuật, vì thế, không nên được hiểu như danh tiếng cá nhân tách khỏi nhà trường, mà như kết quả của một môi trường học thuật có chuẩn mực, có năng lực và có trách nhiệm.

Gắn kết văn hóa – xã hội: nền tảng của hợp tác bền vững

Trong khoa học, không phải mọi giá trị đều thể hiện ngay qua kinh phí, công bố hay xếp hạng. Nhiều hợp tác lâu dài bắt đầu từ những quan hệ học thuật rất cụ thể: một cuộc trao đổi tại hội thảo, một thư mời phản biện, một seminar trực tuyến, một lần đồng hướng dẫn, hoặc sự tin cậy được xây dựng qua thời gian. Knight (2008) xem hiểu biết liên văn hóa là một trong những lí do quan trọng của quốc tế hóa giáo dục đại học; trong hoạt động khoa học, yếu tố này còn có ý nghĩa duy trì mạng lưới chuyên môn.

Các phân tích về giảng viên Honduras ghi nhận rằng quan hệ đồng nghiệp, tình bạn học thuật, trải nghiệm văn hóa và sự mở rộng tầm nhìn có vai trò đáng kể trong việc duy trì hợp tác quốc tế (Zelaya-Perdomo & Montañés-Serrano, 2026). Những yếu tố ấy có thể không phải lí do duy nhất khiến giảng viên tham gia một hội thảo hay dự án, nhưng chúng tạo ra môi trường tin cậy để hợp tác tiếp tục phát triển. Khi các nhà khoa học cùng chia sẻ mối quan tâm, hiểu được bối cảnh của nhau và tôn trọng khác biệt học thuật, hợp tác sẽ bền hơn những thỏa thuận chỉ tồn tại trên giấy tờ.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, nền tảng công nghệ mở rộng thêm khả năng duy trì các quan hệ này. Seminar trực tuyến, nhóm đọc quốc tế, phản biện bản thảo từ xa, đồng hướng dẫn học viên và cùng phát triển dữ liệu qua môi trường số giúp giảm chi phí, tăng cơ hội cho giảng viên trẻ, đồng thời hỗ trợ những cơ sở chưa có nguồn lực lớn vẫn có thể tham gia đời sống học thuật quốc tế. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là phương tiện. Chất lượng hợp tác vẫn phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, chuẩn mực liêm chính, văn hóa đối thoại và cam kết lâu dài của các bên tham gia.

Khuyến nghị cho giáo dục đại học Việt Nam

Đối với Việt Nam, quốc tế hóa hoạt động khoa học của giảng viên cần được đặt trong định hướng đổi mới giáo dục, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 xác định yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện hội nhập quốc tế; Kết luận số 91-KL/TW ngày 12 tháng 8 năm 2024 tiếp tục nhấn mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW trong giai đoạn mới. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2022 phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030. Những căn cứ chính sách này đặt ra yêu cầu rõ ràng: giáo dục đại học không chỉ mở rộng hợp tác, mà phải nâng cao năng lực khoa học, năng lực quản trị và năng lực phục vụ phát triển đất nước.

Trước hết, các trường đại học cần xây dựng chính sách quốc tế hóa dựa trên nhu cầu thật của giảng viên. Không nên áp dụng một hệ yêu cầu giống nhau cho mọi ngành, mọi đơn vị và mọi giai đoạn nghề nghiệp. Giảng viên trẻ thường cần hỗ trợ về phương pháp, ngoại ngữ học thuật, kĩ năng viết bài, tìm đối tác và tham gia mạng lưới chuyên môn. Giảng viên đã có kinh nghiệm cần cơ chế để dẫn dắt nhóm, chủ trì dự án quốc tế, xây dựng phòng thí nghiệm, phát triển chương trình sau đại học và bồi dưỡng thế hệ kế cận. Các ngành khoa học xã hội và nhân văn cần thêm hỗ trợ về công bố bằng ngoại ngữ, dữ liệu định tính, hợp tác khu vực và đưa vấn đề Việt Nam vào thảo luận quốc tế. Các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, sức khỏe cần điều kiện thuận lợi về thiết bị, phần mềm, cơ sở dữ liệu, phòng thí nghiệm và chuẩn quản lí dữ liệu.

Thứ hai, cần cải thiện quy trình quản trị tài chính, hành chính và pháp lí cho hợp tác quốc tế. Nhiều cơ hội học thuật có thời hạn ngắn và yêu cầu phản hồi nhanh. Nếu quy trình phê duyệt, tiếp nhận tài trợ, mua sắm, thanh toán, mời chuyên gia hoặc kí kết hợp tác kéo dài, giảng viên khó tận dụng cơ hội. Minh bạch và trách nhiệm giải trình là yêu cầu bắt buộc, nhưng quản trị khoa học không thể vận hành như quản trị chi thường xuyên đơn thuần. Các trường cần có bộ phận hỗ trợ chuyên nghiệp về dự án quốc tế, bao gồm tư vấn hợp đồng, tài chính, sở hữu trí tuệ, đạo đức khoa học, dữ liệu và công bố.

Thứ ba, cần thiết lập các quỹ hỗ trợ hợp tác quốc tế có quy mô phù hợp nhưng vận hành linh hoạt. Không phải hợp tác nào cũng bắt đầu bằng dự án lớn. Một khoản hỗ trợ cho seminar chuyên đề, nhóm đọc quốc tế, biên tập học thuật, viết đề xuất chung, mời chuyên gia phản biện bản thảo, dịch thuật, xử lí dữ liệu hoặc tham gia hội thảo có chọn lọc có thể tạo tiền đề cho các dự án sâu hơn. Đặc biệt, trong môi trường số, nhiều hoạt động quốc tế hóa có thể triển khai với chi phí hợp lí nếu được tổ chức bài bản và có mục tiêu chuyên môn rõ ràng.

Thứ tư, cần đổi mới cách đánh giá quốc tế hóa. Bên cạnh số lượng công bố quốc tế, cần xem xét chất lượng hợp tác, vai trò của giảng viên Việt Nam trong công trình chung, mức độ tham gia của học viên sau đại học, sự hình thành nhóm chuyên môn, dữ liệu khoa học được tạo lập, đóng góp cho chương trình đào tạo, tác động đến thực hành giáo dục và khả năng đóng góp cho chính sách. Cách đánh giá rộng hơn sẽ giúp hạn chế tình trạng quốc tế hóa bị thu hẹp thành cuộc đua thành tích ngắn hạn.

Thứ năm, cần coi tạp chí khoa học trong nước là một bộ phận quan trọng của quốc tế hóa. Một hệ thống đại học mạnh không chỉ gửi tri thức ra bên ngoài, mà còn phải có diễn đàn học thuật trong nước đủ chuẩn mực để tiếp nhận, phản biện và lan tỏa tri thức. Các tạp chí khoa học cần được đầu tư về quy trình phản biện, đạo đức xuất bản, chuẩn dữ liệu, biên tập học thuật, hội đồng biên tập quốc tế, xuất bản song ngữ và kết nối với các cơ sở dữ liệu uy tín. Khi tạp chí trong nước được nâng chuẩn, các vấn đề của Việt Nam có thêm không gian khoa học nghiêm túc để được trình bày và đối thoại với cộng đồng quốc tế.

Thứ sáu, cần xây dựng văn hóa hợp tác trong đại học. Quốc tế hóa sẽ thiếu bền vững nếu chỉ dựa vào một vài cá nhân có quan hệ quốc tế. Nhà trường cần khuyến khích nhóm chuyên môn, đồng hướng dẫn, hợp tác liên ngành, chia sẻ dữ liệu, seminar định kì, cố vấn học thuật cho giảng viên trẻ và cơ chế ghi nhận những đóng góp xây dựng cộng đồng khoa học. Khi hợp tác quốc tế trở thành tài sản chung của khoa, viện và trường, hiệu quả của nó sẽ không mất đi khi một cá nhân thay đổi vị trí công tác hoặc khi một dự án kết thúc.

Quốc tế hóa phải làm "giàu" năng lực học thuật của đại học

Quốc tế hóa không nên được hiểu như một nội dung bổ sung trong hồ sơ phát triển của trường đại học, mà phải trở thành năng lực học thuật được bồi đắp trong từng giảng viên, từng nhóm chuyên môn và từng thiết chế đại học. Sau mỗi hợp tác, điều cần được hỏi không chỉ là có thêm bao nhiêu bài báo, dự án hay thỏa thuận, mà là giảng viên có làm việc tốt hơn không, học viên có được tham gia vào môi trường học thuật nghiêm túc hơn không, nhóm chuyên môn có trưởng thành hơn không, tạp chí và chương trình đào tạo có được nâng chuẩn không, nhà trường có thêm năng lực quản trị khoa học và phục vụ xã hội không.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới giáo dục, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, quốc tế hóa cần được xem như một phương thức bồi đắp năng lực học thuật của đại học. Hợp tác quốc tế chỉ thật sự có ý nghĩa khi không dừng ở quan hệ đối ngoại, mà trở thành động lực cải thiện phương pháp, chuẩn mực, văn hóa khoa học và năng lực công bố. Một đại học hội nhập không phải là đại học có nhiều tên đối tác trong hồ sơ, mà là đại học có đủ năng lực để tham gia đối thoại học thuật bình đẳng, đóng góp tri thức có giá trị và nuôi dưỡng một cộng đồng giảng viên biết hợp tác, biết sáng tạo và biết chịu trách nhiệm với chất lượng khoa học của mình.

Tài liệu tham khảo

Aigner, J. S., Nelson, P., & Stimpfl, J. R. (1992). Internationalizing the university: Making it work. CBIS Federal.

de Wit, H. (2000). Changing rationales for the internationalization of higher education. In L. C. Barrows (Ed.), Internationalization of higher education: An institutional perspective (pp. 9–21). UNESCO.

Finkelstein, M. J., Walker, E., & Chen, R. (2013). The American faculty in an age of globalization: Predictors of internationalization of research content and professional networks. Higher Education, 66(3), 325–340.

Georghiou, L. (1998). Global cooperation in research. Research Policy, 27(6), 611–626.

Knight, J. (1997). Internationalization of higher education: A conceptual framework. In J. Knight & H. de Wit (Eds.), Internationalization of higher education in Asia Pacific countries (pp. 5–19). European Association for International Education Publications.

Knight, J. (2008). Higher education in turmoil: The changing world of internationalization. Sense Publishers.

Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030.

Turner, Y., & Robson, S. (2007). Competitive and cooperative impulses to internationalization: Reflecting on the interplay between management intentions and the experience of academics in a British university. Education, Knowledge and Economy, 1(1), 65–82.

Wagner, C. (2006). International collaboration in science and technology: Promises and pitfalls. In L. Box & R. Engelhard (Eds.), Science and technology policy for development, dialogues at the interface (pp. 165–176). Anthem Press.

Woldegiyorgis, A. A., Proctor, D., & de Wit, H. (2018). Internationalization of research: Key considerations and concerns. Journal of Studies in International Education, 22(2), 161–176.

Zelaya-Perdomo, I., & Montañés-Serrano, M. (2026). Rationales for research internationalization among Honduran university faculty: A discourse analysis. Education Sciences, 16(5), 669.

PV/BTV

Nguyễn Lê Vân An

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận