Vì vậy, nếu tiếp tục quản lý văn hóa bằng tư duy hành chính truyền thống hoặc đầu tư theo lối bao cấp dàn trải thì khó có thể tạo ra sức bật mới. Điều cần thiết là phải hình thành một mô hình thể chế vừa giữ được định hướng giá trị, vừa khuyến khích sáng tạo; vừa bảo đảm vai trò dẫn dắt của Nhà nước, vừa giải phóng nguồn lực xã hội; vừa bảo tồn bản sắc, vừa thúc đẩy đổi mới và hội nhập.
Theo tinh thần đó, Nghị quyết được xây dựng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW, với mục tiêu đổi mới căn bản tư duy huy động nguồn lực cho văn hóa, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, còn nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng cho phát triển. Điều này cho thấy văn hóa không còn được nhìn chủ yếu như một lĩnh vực tiêu dùng ngân sách, mà như một hệ sinh thái phát triển cần có thiết kế thể chế hiện đại và dài hạn.
Từ phương diện chính trị, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam không phải là một sáng kiến hành chính đơn lẻ, mà là yêu cầu chính trị trực tiếp nhằm đưa chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã giao rõ trách nhiệm phải kịp thời thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn thành các cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể, khả thi và hiệu quả.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật về văn hóa hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Nhận thức về vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững chưa thật sự sâu sắc, dẫn đến việc thể chế hóa còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa tạo được đột phá cần thiết. Pháp luật về đầu tư, tài chính cho văn hóa còn phân tán; mức đầu tư thấp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; cơ chế xã hội hóa và thu hút nguồn lực ngoài nhà nước chưa hoàn chỉnh; chính sách cho nhân lực văn hóa, bảo tồn di sản, công nghiệp văn hóa và công nghiệp giải trí còn thiếu tính tổng thể; sức sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ chưa được phát huy đúng mức; mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hóa còn chênh lệch giữa các vùng miền.
Những hạn chế này liên kết với nhau thành một vòng luẩn quẩn của thể chế yếu, làm cho văn hóa khó phát triển tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, việc ban hành một nghị quyết mang tính hệ thống, có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và mở đường cho phát triển là hết sức cần thiết.
Chính sách nhân lực văn hóa: Tạo nền tảng đào tạo, phát triển đội ngũ chất lượng cao
Nghị quyết xác định một số nội dung đột phá trọng tâm như: thu hút nguồn lực đầu tư cho văn hóa; ưu đãi đầu tư, tài trợ và hoạt động văn hóa; khai thác, vận hành thiết chế văn hóa; bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa.
Đáng chú ý, Nghị quyết dành riêng một nhóm chính sách cho đãi ngộ và phát triển tài năng trong lĩnh vực văn hóa, thể thao – được xem là đột phá về chính sách nhân lực văn hóa. Đây là lựa chọn có ý nghĩa quan trọng, bởi suy cho cùng, các cơ chế, nguồn lực hay ưu đãi chỉ tạo điều kiện, còn yếu tố quyết định sức sống của văn hóa vẫn là con người sáng tạo.
Nghị quyết cũng giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chủ động bố trí ngân sách, ban hành chính sách huy động nguồn lực xã hội nhằm hỗ trợ, đãi ngộ nghệ nhân, nghệ sĩ trong sáng tạo, thực hành và truyền dạy văn hóa truyền thống tại địa phương.
Điểm mới đáng chú ý là lần đầu tiên vấn đề nhân tài văn hóa được đặt thành một cấu phần chính sách mang tính hệ thống. Điều đó đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống thiếu lực lượng kế cận, nhiều nghệ sĩ tài năng đối mặt với thu nhập thấp, điều kiện nghề nghiệp khó khăn, còn các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật lại gặp nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ và khả năng hội nhập quốc tế.
Việc đầu tư cho nhân lực văn hóa không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ trước mắt mà còn là giải pháp lâu dài để nuôi dưỡng sức sáng tạo và bảo đảm sự phát triển bền vững của nền văn hóa dân tộc. Nói cách khác, đây là đầu tư cho tương lai và khả năng “tái sinh” của văn hóa Việt Nam.
Phát triển văn hóa bền vững cần đồng bộ chính sách và cơ chế thực thi
Có thể thấy, Nghị quyết không chỉ giải quyết những vướng mắc trước mắt mà còn mở ra hướng phát triển dài hạn cho văn hóa Việt Nam, với tác động trên ba phương diện: nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước, tăng sự tham gia của xã hội và khu vực tư nhân, đồng thời phát huy văn hóa như một động lực nội sinh cho phát triển bền vững.
Thứ hai, cần thiết kế cơ chế phân tầng chính sách rõ hơn giữa các lĩnh vực văn hóa khác nhau. Không phải mọi hoạt động văn hóa đều có cùng khả năng thị trường hóa, cùng mức độ cần hỗ trợ hay cùng cơ chế khai thác. Vì vậy, để tránh dàn trải, cần có chiến lược ưu tiên theo nhóm lĩnh vực, theo mức độ công ích và theo tiềm năng phát triển.
Thứ ba, cần đặc biệt chú trọng đến cơ chế bảo vệ giá trị công cộng trong quá trình mở rộng hợp tác công – tư trong văn hóa là cần thiết, nhưng nếu không có nguyên tắc rõ ràng thì có thể dẫn tới thương mại hóa di sản hoặc thu hẹp khả năng tiếp cận của công chúng. Vì vậy, trong thiết kế thực thi, cần xác định rõ đâu là phần Nhà nước phải bảo đảm bằng nguồn lực công, đâu là phần có thể xã hội hóa, và đâu là giới hạn không được vượt qua khi khai thác tài sản công và di sản văn hóa.
Thứ tư, cần gắn chính sách văn hóa với chính sách khoa học, công nghệ, giáo dục và đối ngoại. Nghị quyết đã bước đầu thể hiện tư duy này khi ưu tiên hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao cho văn hóa, thu hút chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt và tạo điều kiện để di sản, tác phẩm nghệ thuật tham gia các hoạt động quốc tế. Trong quá trình thực thi, cần tiếp tục coi văn hóa là một hệ sinh thái liên ngành, trong đó giáo dục thẩm mỹ, đào tạo nhân lực, công nghệ số, ngoại giao văn hóa và phát triển thị trường phải được kết nối chặt chẽ với nhau.
Có thể thấy, Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ý nghĩa ấy không chỉ nằm ở việc bổ sung một số ưu đãi hay tháo gỡ một số vướng mắc mang tính kỹ thuật, mà sâu xa hơn, ở chỗ Nghị quyết đang góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa: văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được chăm lo, mà là một trụ cột của phát triển bền vững; không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Tờ trình dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam.
4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
5. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
6. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.
7. Quốc hội (2025), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15; Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
8. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.