Thứ Sáu , 03/04/2026 , 22:35:23 GMT+7

Học sinh dân tộc thiểu số bỏ học ở cấp THCS: Nhìn từ thực tiễn và gợi mở giải pháp

Model?.data?.author?.Name
Huyền Đức

Biên tập viên

Thứ Sáu, 03/04/2026, 14:38:48 GMT+7

Tình trạng học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số bỏ học vẫn là một vấn đề cần được nhìn nhận một cách toàn diện trong bối cảnh giáo dục hướng tới phát triển bền vững và bao trùm. Nghiên cứu của TS. Trần Thị Yên (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) đã chỉ ra những đặc điểm, xu hướng và nguyên nhân của hiện tượng này trong những năm gần đây. Từ đó, các giải pháp được đề xuất nhằm góp phần giảm thiểu bỏ học và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Một vấn đề không mới nhưng vẫn còn nhiều trăn trở

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, giáo dục giữ vai trò nền tảng trong việc nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ. Tuy nhiên, dù đã đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tình trạng học sinh bỏ học vẫn tồn tại ở nhiều địa phương, thậm chí có xu hướng gia tăng ở một số nhóm dân tộc và khu vực.

Việc nghiên cứu hiện tượng này là cần thiết nhằm xác định rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp, qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số. Ở góc độ hệ thống, vấn đề bỏ học còn gắn với công tác phân luồng sau trung học cơ sở. Theo báo cáo của TS. Hà Đức Đà (2019) trong Kỉ yếu Hội nghị tổng kết Nghị quyết 24/NQ-TW về công tác dân tộc, khi hoạt động phân luồng chưa phù hợp với điều kiện vùng dân tộc thiểu số, một bộ phận học sinh khó xác định được hướng đi tiếp theo, từ đó làm gia tăng nguy cơ rời khỏi hệ thống giáo dục.

Tạp chí giáo dục
Học sinh dân tộc thiểu số ở miền núi đến trường trong điều kiện còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội (Ảnh: Shutter)

Những tín hiệu tích cực nhưng chưa đồng đều

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn 2016-2019, tỉ lệ học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số bỏ học có xu hướng giảm dần, đồng thời tỉ lệ hoàn thành chương trình THCS tăng lên. Cụ thể, tỉ lệ bỏ học giảm từ 1,48% xuống 1,13%, số lượng học sinh bỏ học cũng giảm từ 9.662 xuống 7.823 em. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng sự cải thiện này chưa đồng đều giữa các vùng: khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có tỉ lệ thấp hơn mức chung, trong khi Tây Nguyên và Tây Nam Bộ lại cao hơn.

Tạp chí giáo dục
Chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện, góp phần giảm tỉ lệ bỏ học ở cấp THCS (Ảnh: Nhật Nam - Báo Thanh niên)

Bên cạnh đó, hiện tượng bỏ học có sự khác biệt theo giới tính và khối lớp. Theo nhận định của tác giả, học sinh nam bỏ học nhiều hơn học sinh nữ, và tỉ lệ bỏ học tăng dần từ lớp 6 đến lớp 9, trong đó lớp 8 là giai đoạn có nguy cơ cao nhất. Đáng chú ý, tất cả các dân tộc đều có học sinh bỏ học, song mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và địa bàn cư trú. Điều này cho thấy tính chất phức tạp và không đồng nhất của vấn đề.

Nhìn từ nguyên nhân: Một bài toán nhiều tầng bậc

Nghiên cứu chỉ ra rằng hiện tượng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học là “kết quả của quá trình giáo dục chịu tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau”, có thể khái quát thành các nhóm: từ phía học sinh, nhà trường, gia đình - xã hội và chính sách. Trong đó, nguyên nhân kinh tế - xã hội được xem là yếu tố chủ đạo. Ở nhiều địa phương, do điều kiện sống khó khăn, học sinh phải tham gia lao động sớm hoặc di cư theo gia đình để mưu sinh. Điều này dẫn đến việc học sinh không thể tiếp tục học tập hoặc bị gián đoạn quá trình học. Bên cạnh đó, tình trạng kết hôn sớm hoặc nhận thức hạn chế của phụ huynh về vai trò của giáo dục cũng là những yếu tố ảnh hưởng đáng kể.

Ở góc nhìn hệ thống, khi phân luồng sau THCS chưa hiệu quả, học sinh dễ rơi vào trạng thái thiếu định hướng, từ đó làm tăng khả năng bỏ học. Ngoài ra, sự khác biệt giữa các vùng, giữa các dân tộc cho thấy yếu tố địa bàn và điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ bỏ học, ngay cả trong cùng một dân tộc nhưng ở các địa phương khác nhau.

Hướng tiếp cận giải pháp: Từ hỗ trợ đến tạo động lực học tập

Từ thực trạng trên, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp mang tính định hướng nhằm giảm thiểu tình trạng bỏ học.

Trước hết, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của chính quyền các cấp và sự phối hợp của các tổ chức trong việc vận động học sinh đến trường, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục. Ở cấp trường, nghiên cứu nhấn mạnh việc cần quan tâm tới tâm lí học sinh, đặc biệt là những em có nguy cơ bỏ học, để có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Đồng thời, cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phù hợp với đặc thù văn hóa, ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số. Một điểm đáng chú ý là vai trò của hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú. Đây là mô hình có hiệu quả trong việc đảm bảo điều kiện học tập và duy trì sĩ số cho học sinh vùng khó khăn.

Tạp chí giáo dục
Mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú góp phần duy trì sĩ số, tạo điều kiện học tập cho học sinh vùng khó khăn; đồng thời các chính sách giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số được triển khai theo cách tiếp cận chủ yếu tập trung vào giải pháp kinh tế, gắn với Chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia, miễn giảm học phí, hỗ trợ trực tiếp tiền nhà, ăn, ở cho học sinh bán trú và nội trú. Ảnh: Trung Kiên - TTXVN

Bên cạnh đó, việc gắn giáo dục với hướng nghiệp và đào tạo nghề cũng được xem là giải pháp quan trọng. Việc phân luồng linh hoạt, phù hợp với điều kiện địa phương sẽ giúp học sinh có nhiều lựa chọn hơn, từ đó hạn chế tình trạng bỏ học. Ngoài ra, việc thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách hỗ trợ học sinh, đặc biệt là về học phí và chi phí học tập, được xem là yếu tố quan trọng giúp duy trì việc học.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Dù đã 6 năm kể từ ngày công bố, nghiên cứu của TS. Trần Thị Yên vẫn giữ nguyên giá trị tham chiếu trong việc nhận diện những vấn đề cốt lõi liên quan đến tình trạng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học ở cấp THCS. Việc triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực được xem là một cơ hội quan trọng nhằm hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, bản thân sự đổi mới chương trình khó có thể giải quyết triệt để tình trạng bỏ học nếu không đi kèm với những điều kiện bảo đảm trong quá trình thực thi.

Thực tế cho thấy, nhiều nguyên nhân dẫn đến bỏ học không nằm trong phạm vi nhà trường mà xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và sinh kế của gia đình. Vì vậy, nếu chỉ tiếp cận đổi mới giáo dục ở cấp độ chương trình, nội dung hay phương pháp dạy học thì khó có thể tạo ra tác động bền vững. Điều cần thiết hơn là một cách tiếp cận tích hợp, trong đó giáo dục được đặt trong mối quan hệ với phát triển địa phương, với cơ hội việc làm và với các chính sách an sinh xã hội.

Từ góc nhìn này, có thể thấy việc đổi mới giáo dục cần được hiểu rộng hơn như một quá trình điều chỉnh toàn diện hệ sinh thái giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số. Chẳng hạn, việc tích hợp tri thức bản địa, tăng cường giáo dục hướng nghiệp gắn với sinh kế địa phương, hay phát triển các mô hình học tập linh hoạt sẽ giúp học sinh nhận thấy giá trị thực tiễn của việc học. Khi việc học gắn với “đường ra” cụ thể trong cuộc sống, khả năng duy trì học tập sẽ được củng cố một cách tự nhiên hơn.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng gợi mở rằng yếu tố con người - đặc biệt là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí đóng vai trò then chốt. Sự vào cuộc tích cực của chính quyền và nhà trường ở một số vùng đã góp phần làm giảm tỉ lệ bỏ học. Điều này cho thấy, đổi mới giáo dục không chỉ là đổi mới chương trình mà còn là đổi mới năng lực thực thi ở cơ sở.

Hướng tới một nền giáo dục bao trùm

Có thể thấy rằng, vấn đề học sinh dân tộc thiểu số bỏ học không chỉ là một hiện tượng giáo dục đơn thuần mà phản ánh những thách thức mang tính cấu trúc trong phát triển vùng. Đây là nhiệm vụ cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, có thể đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để giáo dục thực sự trở thành một lựa chọn có ý nghĩa đối với học sinh dân tộc thiểu số, chứ không chỉ là một nghĩa vụ cần hoàn thành. Khi học sinh rời khỏi trường học, đó không chỉ là sự “đứt gãy” trong quá trình học tập mà còn cho thấy khoảng cách giữa giáo dục và đời sống thực tiễn của các em. Do đó, hướng tới một nền giáo dục bao trùm không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo quyền được đi học, mà còn cần đảm bảo rằng việc học có giá trị, có ý nghĩa và có tính khả thi đối với từng nhóm đối tượng. Điều này đòi hỏi các chính sách giáo dục cần linh hoạt hơn, tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, điều kiện sống và nhu cầu phát triển của từng cộng đồng.

Ở một góc độ khác, giảm thiểu tình trạng bỏ học cũng có thể được xem như một chỉ báo quan trọng phản ánh mức độ công bằng trong giáo dục. Khi tỉ lệ bỏ học giảm, không chỉ là kết quả của những nỗ lực trong ngành Giáo dục mà còn là dấu hiệu của sự cải thiện trong điều kiện sống, trong nhận thức xã hội và trong hiệu quả của các chính sách phát triển.

Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là “giảm bao nhiêu học sinh bỏ học”, mà là làm thế nào để mỗi học sinh, dù ở bất kì vùng miền nào, đều có cơ hội tiếp cận một nền giáo dục phù hợp, có chất lượng và có ý nghĩa đối với cuộc sống của chính mình. Đây cũng chính là nền tảng để hướng tới phát triển bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trong bối cảnh hiện nay.

Tài liệu tham khảo

Hà Đức Đà (2019). Phân luồng sau Trung học cơ sở vùng dân tộc thiểu số. Kỉ yếu Hội nghị tổng kết nghị quyết 24/NQ-TW về công tác dân tộc.

Trần Thị Yên (2020). Nghiên cứu học sinh người dân tộc thiểu số cấp Trung học cơ sở bỏ học: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 27, 37-41.

Tổng cục Thống kê và UNICEF [General Statistics Office and UNICEF]. 2021. Survey measuring Viet Nam Sustainable Development Goal indicators on Children and Women 2020-2021, Survey Findings Report. Ha Noi, Viet Nam: General Statistics Office.

PV/BTV

Nguyễn Huyền Đức

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

“Mở chiếc hộp đen”: Tìm hiểu về quy trình và nguyên tắc làm việc giữa Biên tập viên và Người phản biện trong các tạp chí quốc tế

Trong thế giới học thuật, việc công bố nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế uy tín (như được chỉ mục trong Scopus hoặc Web of Sciences - WOS) không chỉ là minh chứng cho giá trị khoa học mà còn mở ra nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển danh tiếng cá nhân cho tác giả. Tuy nhiên, đối với nhiều nhà khoa học, nhất là nhà khoa học trẻ/mới vào nghề, toàn bộ quá trình từ lúc gửi bản thảo đến khi nhận quyết định cuối cùng vẫn thường bị coi là một "chiếc hộp đen" đầy mơ hồ. Việc vén màn những gì diễn ra trong “chiếc hộp đen” (black box) – nơi biên tập viên (editor) và người phản biện (reviewer) phối hợp đánh giá sẽ giúp tác giả chủ động hơn và chỉnh sửa, nâng cấp bản thảo để vượt qua các vòng sàng lọc khắt khe. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải mã quy trình biên tập và phản biện kể trên, làm rõ các tiêu chí sàng lọc của biên tập viên và phản biện; đồng thời cung cấp những chiến lược, khuyến nghị giúp các nhà nghiên cứu tăng khả năng vượt qua "chiếc hộp đen" để công bố thành công trên các tạp chí quốc tế.

X
Xác nhận