Thứ Sáu , 29/05/2026 , 02:47:41 GMT+7

Chuyển đổi số đại học: Những “nút thắt” phía sau làn sóng đổi mới giáo dục

Model?.data?.author?.Name
Huyền Đức

Biên tập viên

Thứ Sáu, 08/05/2026, 11:53:19 GMT+7

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng quan trọng trong giáo dục đại học toàn cầu, đặc biệt sau đại dịch COVID-19 và trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, đằng sau những kì vọng về một nền giáo dục linh hoạt, thông minh và kết nối là hàng loạt rào cản từ hạ tầng, quản trị, văn hóa tổ chức đến năng lực số của đội ngũ. Một nghiên cứu tổng quan hệ thống công bố năm 2025 đã chỉ ra bức tranh nhiều chiều về các trở lực mà các trường đại học đang đối diện trên hành trình đổi mới số.

Tạp chí giáo dục
Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng quan trọng trong giáo dục đại học toàn cầu, kéo theo những thay đổi về dạy học, quản trị và trải nghiệm người học (Ảnh: European Education Area)

Khi chuyển đổi số không còn là lựa chọn

Trong khoảng một thập niên trở lại đây, chuyển đổi số (digital transformation – DT) đã dần vượt khỏi phạm vi của lĩnh vực công nghệ để trở thành yêu cầu chiến lược trong giáo dục đại học. Không chỉ dừng lại ở việc số hóa dữ liệu hay ứng dụng phần mềm quản lí, chuyển đổi số còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện cách thức vận hành, quản trị, giảng dạy và học tập trong nhà trường. Nghiên cứu của Amando Jr. Singun công bố trên tạp chí Discover Education năm 2025 nhấn mạnh rằng, giáo dục đại học đang chịu tác động mạnh mẽ từ các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT), thực tế ảo hay điện toán đám mây.

Theo UNESCO, đổi mới số có thể góp phần thúc đẩy khả năng tiếp cận giáo dục chất lượng, tăng tính bao trùm và nâng cao hiệu quả quản lí giáo dục. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể đạt được nếu các cơ sở giáo dục đủ năng lực thích ứng với môi trường số đang thay đổi rất nhanh. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời một câu hỏi cốt lõi: đâu là những rào cản lớn nhất khiến quá trình chuyển đổi số trong các cơ sở giáo dục đại học diễn ra chậm chạp hoặc thiếu hiệu quả? Thông qua phương pháp tổng quan hệ thống theo chuẩn PRISMA, tác giả đã phân tích 20 nghiên cứu quốc tế công bố giai đoạn 2019–2024 để xây dựng một “ma trận khái niệm” về các rào cản trong chuyển đổi số ở giáo dục đại học.

Những khó khăn mà các trường đại học gặp phải không chỉ nằm ở công nghệ hay kinh phí. Nghiên cứu xác định tới 9 nhóm rào cản lớn gồm: tầm nhìn và chiến lược số; lãnh đạo và quản trị số; tổ chức số; nguồn lực số; năng lực số; quản lí các bên liên quan; văn hóa số; học thuật số; và đạo đức số. Tổng cộng có khoảng 80 tiểu nhóm rào cản được nhận diện. Điều đáng chú ý là các rào cản này không tồn tại tách biệt mà liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một “hệ sinh thái trở lực” khiến nhiều trường đại học dù có chủ trương đổi mới nhưng vẫn khó chuyển hóa thành hành động hiệu quả. Chính điều đó cho thấy chuyển đổi số trong giáo dục đại học không đơn thuần là câu chuyện đầu tư công nghệ, mà là một quá trình thay đổi mang tính hệ thống.

Thiếu tầm nhìn số: “điểm nghẽn” từ bên trong nhà trường

Một trong những phát hiện nổi bật của nghiên cứu là sự thiếu vắng một tầm nhìn số rõ ràng tại nhiều cơ sở giáo dục đại học. Theo tác giả, không ít trường đại học triển khai chuyển đổi số theo kiểu “phản ứng tình thế”, tập trung xử lí các vấn đề trước mắt thay vì xây dựng chiến lược dài hạn. Nhiều trường chưa xác định được mục tiêu cụ thể của chuyển đổi số, dẫn tới tình trạng thiếu đồng bộ giữa tầm nhìn, chính sách và triển khai thực tế. Các đơn vị trong cùng một trường có thể hiểu khác nhau về “chuyển đổi số”, từ đó hình thành những ưu tiên riêng biệt và đôi khi mâu thuẫn với nhau.

Đáng chú ý hơn, việc xây dựng tầm nhìn số thường thiếu sự tham gia của giảng viên, sinh viên và các bên liên quan. Điều này khiến quá trình chuyển đổi dễ rơi vào trạng thái “từ trên xuống”, thiếu sự đồng thuận và động lực thực thi từ cộng đồng học thuật. Liên hệ với Việt Nam, đây cũng là thách thức không nhỏ trong quá trình đổi mới giáo dục đại học hiện nay. Nhiều trường đã xây dựng trung tâm chuyển đổi số, đầu tư nền tảng LMS hoặc triển khai lớp học trực tuyến, nhưng chiến lược tổng thể về dữ liệu, quản trị số hay đổi mới mô hình đào tạo vẫn chưa thật sự rõ nét. Ở một số nơi, chuyển đổi số vẫn chủ yếu được hiểu như “tin học hóa” hoặc “số hóa hồ sơ”, trong khi các thay đổi sâu hơn về quản trị học thuật, trải nghiệm người học hay văn hóa tổ chức chưa được chú trọng tương xứng.

Hạ tầng công nghệ chưa đủ mạnh để nâng đỡ đổi mới

Trong số 9 nhóm rào cản, “nguồn lực số” được xác định là nhóm có tần suất xuất hiện cao nhất trong các nghiên cứu được tổng hợp. Đặc biệt, hạn chế về hạ tầng ICT là trở lực nổi bật nhất. Nhiều trường đại học, nhất là tại các quốc gia đang phát triển, vẫn gặp khó khăn về kết nối Internet, máy chủ, phần mềm quản lí hay hệ thống học tập trực tuyến. Đại dịch COVID-19 từng cho thấy rõ khoảng cách số giữa các cơ sở giáo dục: không ít giảng viên và sinh viên thiếu thiết bị học tập, thiếu kết nối mạng ổn định hoặc không có đủ kĩ năng sử dụng nền tảng số.

Tạp chí giáo dục
Hạn chế về hạ tầng ICT, hệ thống dữ liệu phân mảnh và thiếu tính tích hợp đang là trở lực lớn đối với nhiều trường đại học (Ảnh: AECC)

Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào các hệ thống cũ, thiếu tính tích hợp cũng làm giảm hiệu quả vận hành. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng nhiều trường đang tồn tại tình trạng “phân mảnh dữ liệu”, các hệ thống quản lí không kết nối được với nhau, dẫn tới trùng lặp thông tin và khó khăn trong ra quyết định. Đây là vấn đề khá gần với thực tiễn Việt Nam. Trong thời gian qua, nhiều trường đại học đã đầu tư mạnh cho hạ tầng số, song mức độ đồng bộ giữa các hệ thống vẫn còn hạn chế. Không ít cơ sở sử dụng song song nhiều phần mềm khác nhau cho tuyển sinh, đào tạo, khảo thí, tài chính hay quản lí sinh viên nhưng thiếu một nền tảng dữ liệu thống nhất. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị mà còn làm giảm trải nghiệm của người học và giảng viên.

Văn hóa tổ chức và tâm lí e ngại thay đổi

Nếu hạ tầng là điều kiện “cứng” thì văn hóa tổ chức lại là điều kiện “mềm” nhưng có sức chi phối rất lớn. Nghiên cứu cho thấy “văn hóa ngại thay đổi” là một trong những rào cản phổ biến nhất trong chuyển đổi số giáo dục đại học. Nhiều giảng viên và cán bộ quản lí vẫn quen với mô hình vận hành truyền thống, từ đó xuất hiện tâm lí dè dặt trước các phương pháp giảng dạy mới hoặc các công nghệ số. Một bộ phận lo ngại rằng công nghệ sẽ làm gia tăng áp lực công việc, ảnh hưởng tới vị trí nghề nghiệp hoặc làm suy giảm vai trò của người dạy.

Tạp chí giáo dục
Chuyển đổi số không chỉ là thay đổi công nghệ mà còn đòi hỏi sự thích ứng về văn hóa tổ chức và tư duy nghề nghiệp (Ảnh: baochinhphu.vn)

Nghiên cứu cũng đề cập tới các tác động tâm lí như căng thẳng công nghệ, cảm giác cô lập trong môi trường số hay tình trạng phụ thuộc quá mức vào thiết bị số. Những yếu tố này cho thấy chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của thiết bị và nền tảng, mà còn là sự thích ứng về tâm lí, hành vi và văn hóa làm việc. Từ góc nhìn này, có thể thấy quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam cần chú trọng hơn tới yếu tố con người. Nếu chỉ đầu tư công nghệ mà thiếu hỗ trợ chuyên môn, thiếu bồi dưỡng năng lực số và thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới thì rất khó tạo ra thay đổi thực chất.

Năng lực số của đội ngũ: khoảng cách chưa dễ lấp đầy

Một phát hiện đáng chú ý khác của nghiên cứu là sự thiếu hụt về năng lực số trong đội ngũ giảng viên và nhân sự giáo dục. Đây là rào cản xuất hiện với tần suất rất cao trong các nghiên cứu được tổng hợp. Không ít giảng viên thiếu kĩ năng sử dụng công nghệ trong dạy học, chưa quen với thiết kế học liệu số hoặc gặp khó khăn khi tổ chức các mô hình học tập trực tuyến. Trong khi đó, cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về công nghệ giáo dục lại chưa thật sự thường xuyên và hệ thống.

Tạp chí giáo dục
Việc xây dựng năng lực số cho giảng viên và sinh viên đang trở thành yêu cầu lâu dài của giáo dục đại học trong kỉ nguyên AI (Ảnh: Thúy An)

Điều này gợi mở một vấn đề quan trọng: chuyển đổi số giáo dục không thể thành công nếu đội ngũ thực hiện không được chuẩn bị đầy đủ. Công nghệ có thể được đầu tư nhanh chóng, nhưng năng lực con người cần thời gian để hình thành và phát triển. Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhiều chương trình bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên đã được triển khai. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các nhóm ngành, các cơ sở đào tạo và các thế hệ giảng viên vẫn còn khá rõ. Trong bối cảnh AI và dữ liệu lớn đang ngày càng tác động mạnh tới giáo dục đại học, việc xây dựng năng lực số cho đội ngũ không chỉ là nhiệm vụ ngắn hạn mà cần được xem như một chiến lược phát triển dài hạn.

Chuyển đổi số cần được nhìn như một quá trình thay đổi toàn diện

Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là một quá trình phức tạp, liên quan đồng thời tới công nghệ, quản trị, văn hóa tổ chức, chính sách và con người. Điều quan trọng mà nghiên cứu gợi mở là: chuyển đổi số không nên được hiểu đơn thuần như việc đưa công nghệ vào trường học. Nếu thiếu một tầm nhìn chiến lược, thiếu sự đồng thuận nội bộ và thiếu đầu tư cho năng lực con người, các sáng kiến số rất dễ rơi vào tình trạng manh mún hoặc hình thức.

Tạp chí giáo dục
Đổi mới số trong giáo dục đại học cần được nhìn như một quá trình thay đổi toàn diện về công nghệ, quản trị và con người (Ảnh: baochinhphu.vn)

Đối với giáo dục đại học Việt Nam, quá trình đổi mới số đang mở ra nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng tiếp cận giáo dục và cải thiện hiệu quả quản trị. Tuy nhiên, những “nút thắt” mà nghiên cứu chỉ ra cũng là lời nhắc rằng đổi mới số cần đi cùng với sự chuẩn bị đồng bộ về chính sách, hạ tầng, văn hóa tổ chức và phát triển nguồn nhân lực. Trong một môi trường giáo dục đang thay đổi nhanh chóng bởi công nghệ, chuyển đổi số có lẽ không còn là câu hỏi “có nên hay không”, mà là “thực hiện như thế nào để không bỏ lại phía sau người học, giảng viên và chính các cơ sở giáo dục”.

Tài liệu tham khảo

Singun, A. J. (2025). Unveiling the barriers to digital transformation in higher education institutions: a systematic literature review. Discover Education, 4(1), 37. https://doi.org/10.1007/s44217-025-00430-9

UNESCO. (n.d.). Digital learning and transformation of education. Retrieved July 30, 2024, from https://www.unesco.org/en/digital-education

PV/BTV

Nguyễn Huyền Đức

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận