Thứ Sáu , 29/05/2026 , 02:47:56 GMT+7

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học không thay thế vai trò giảng viên

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Năm, 07/05/2026, 10:03:41 GMT+7

Trước làn sóng phát triển mạnh mẽ của công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý thông qua dự thảo Thông tư về ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học (GDĐH). Sự xuất hiện ngày càng rõ nét của trí tuệ nhân tạo (AI) trên giảng đường đặt ra cả cơ hội lẫn thách thức, đòi hỏi cách tiếp cận thận trọng nhằm phát huy vai trò hỗ trợ của công nghệ, đồng thời duy trì chức năng dẫn dắt, định hướng học thuật của giảng viên.

Theo đó, dự thảo Thông tư được xây dựng nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất cho việc triển khai công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ liên quan trong GDĐH.

Dự thảo Thông tư áp dụng đối với các cơ sở GDĐH; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý, phục vụ tại cơ sở GDĐH; đồng thời áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp cung cấp nền tảng, giải pháp công nghệ số và AI phục vụ GDĐH.
Cân bằng giữa đổi mới công nghệ và chuẩn mực học thuật trong giáo dục đại học
Tạp chí giáo dục
Cơ sở giáo dục đại học chủ động lựa chọn, ứng dụng giải pháp công nghệ phù hợp. Ảnh: Thời báo VTV.

Theo dự thảo, ứng dụng công nghệ trong GDĐH được thực hiện toàn diện trong các hoạt động đào tạo, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học, quản trị cơ sở GDĐH và cung cấp dịch vụ, hỗ trợ người học. Các cơ sở GDĐH được chủ động lựa chọn, ứng dụng các giải pháp công nghệ phù hợp với chiến lược phát triển và điều kiện của đơn vị; việc ứng dụng công nghệ phải được thực hiện có kiểm soát, đảm bảo liên chính học thuật.
Trong hoạt động đào tạo, cơ sở GDĐH được chủ động ứng dụng công nghệ số và AI thông qua các phương thức như đào tạo trực tiếp có hỗ trợ công nghệ số, đào tạo trực tuyến toàn phần, đào tạo kết hợp trực tuyến và trực tiếp, đào tạo cá thể hóa dựa trên dữ liệu và AI. Việc ứng dụng công nghệ nhằm hỗ trợ tổ chức giảng dạy, học tập, quản lý quá trình học tập, theo dõi tiến độ, kết quả học tập của người học, tư vấn học tập, định hướng nghề nghiệp và phân tích dữ liệu học tập để cải tiến chương trình, phương pháp giảng dạy.

Đặc biệt, dự thảo nhấn mạnh việc sử dụng AI trong đào tạo phải bảo đảm hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên; minh bạch, có thể giải trình; không làm sai lệch kết quả học tập; tuân thủ liêm chính học thuật và có cơ chế kiểm soát, giám sát.

Đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá, dự thảo quy định cơ sở GDĐH được chủ động ứng dụng công nghệ số và AI nhưng phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, minh bạch và công bằng; phù hợp với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Tạp chí giáo dục
Những việc ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá được đưa ra trong dự thảo.

Ngoài ra, dự thảo yêu cầu bảo đảm xác thực danh tính người học, kiểm soát quá trình kiểm tra, đánh giá; bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng truy vết và lưu trữ dữ liệu đánh giá; công khai quy định, tiêu chí đánh giá và có cơ chế giải trình, phúc tra kết quả. Việc sử dụng AI trong kiểm tra, đánh giá cũng phải bảo đảm hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên; không làm sai lệch kết quả đánh giá; tuân thủ quy định về liêm chính học thuật.
Việc đặt ra các nguyên tắc như minh bạch, có thể giải trình, không làm sai lệch kết quả học tập cho thấy nỗ lực kiểm soát rủi ro khi ứng dụng AI trong đào tạo và đánh giá. Đặc biệt, trong kiểm tra, đánh giá – khâu then chốt bảo đảm chất lượng đào tạo; cùng việc kết hợp công nghệ với các cơ chế xác thực, giám sát và truy vết dữ liệu là cần thiết để duy trì tính khách quan, công bằng. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi sẽ phụ thuộc lớn vào năng lực quản trị của các cơ sở giáo dục và khả năng sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý.

Bảo đảm liêm chính học thuật khi ứng dụng công nghệ

Một nội dung đáng chú ý của dự thảo là quy định riêng về bảo đảm liêm chính học thuật khi ứng dụng công nghệ. Theo đó, việc ứng dụng công nghệ số và AI trong đào tạo, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học phải bảo đảm trung thực, khách quan, minh bạch; tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ; phản ánh đúng năng lực của người học, kết quả nghiên cứu; công nghệ và AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không làm thay đổi bản chất hoạt động học thuật.
Tạp chí giáo dục
Dự thảo chỉ rõ các hành vi vi phạm liêm chính học thuật trong môi trường số.

Các cơ sở GDĐH có trách nhiệm ban hành quy định nội bộ về liêm chính học thuật, xác định rõ hành vi vi phạm, quy trình xử lý và trách nhiệm của các bên liên quan; thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát, xử lý vi phạm; ứng dụng công nghệ để phát hiện gian lận; đồng thời tổ chức phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về liêm chính học thuật.

Việc dự thảo Thông tư nhấn mạnh liêm chính học thuật trong môi trường số cho thấy cách tiếp cận thận trọng trước sự phát triển nhanh của công nghệ và AI trong giáo dục đại học. Khi các hoạt động học tập, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu ngày càng được số hóa, nguy cơ gian lận, sai lệch dữ liệu hay vi phạm sở hữu trí tuệ cũng trở nên tinh vi hơn. Do đó, việc xác định rõ các hành vi vi phạm và yêu cầu minh bạch trong sử dụng công nghệ không chỉ mang tính ràng buộc, mà còn góp phần định hình chuẩn mực học thuật trong bối cảnh mới.

Bên cạnh đó, dự thảo Thông tư cũng quy định việc ứng dụng công nghệ trong quản trị cơ sở GDĐH phải được thực hiện toàn diện trong quản lý, điều hành; lấy dữ liệu làm cơ sở cho quản trị, ra quyết định; bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Các cơ sở GDĐH phải phát triển cơ sở dữ liệu phục vụ quản trị, quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng đào tạo, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học; tạo lập nền tảng dữ liệu cho phân tích, dự báo và ứng dụng công nghệ số, bao gồm AI. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, đồng bộ, có khả năng tích hợp, liên thông, chia sẻ; bảo đảm an toàn, bảo mật và toàn vẹn dữ liệu.

Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng số đồng bộ, bảo đảm khả năng kết nối, tích hợp, liên thông và chia sẻ dữ liệu; phát triển năng lực số và năng lực AI cho người học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Thông tư sau khi được ban hành sẽ là cơ sở quan trọng để thúc đẩy ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và AI có trách nhiệm trong GDĐH; đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng, bảo vệ dữ liệu và bảo đảm liêm chính học thuật trong môi trường số.
Ở góc độ quản trị, việc lấy dữ liệu làm nền tảng cho ra quyết định là bước đi phù hợp với xu hướng hiện đại, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, tính toàn vẹn và bảo mật dữ liệu. Khi dữ liệu trở thành “trục vận hành” của hệ thống, mọi sai lệch đều có thể kéo theo hệ quả rộng hơn đối với chất lượng đào tạo và uy tín học thuật. Vì vậy, bên cạnh công nghệ, yếu tố con người – từ năng lực triển khai đến ý thức tuân thủ vẫn giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm một môi trường giáo dục số minh bạch và đáng tin cậy.
AI trên giảng đường: Công cụ hỗ trợ hiệu quả, nhưng vẫn cần “bộ lọc” từ giảng viên
Tạp chí giáo dục
AI hỗ trợ giảng dạy, giảng viên vẫn giữ vai trò trung tâm. Ảnh: Báo Dân trí.
Việc dự thảo khẳng định rõ AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên cho thấy một quan điểm nhất quán trong quá trình chuyển đổi số giáo dục đại học: công nghệ được thúc đẩy để nâng cao hiệu quả, nhưng không làm thay đổi bản chất của hoạt động sư phạm. Trong bối cảnh AI có thể tham gia vào nhiều khâu từ tổ chức giảng dạy, cá thể hóa học tập đến phân tích dữ liệu, vai trò của giảng viên không bị thu hẹp mà chuyển dịch theo hướng sâu hơn – từ truyền đạt kiến thức sang định hướng học thuật, phát triển tư duy và kiểm soát chất lượng học tập. Đây là yếu tố mà công nghệ, dù phát triển đến đâu, vẫn khó có thể thay thế.
Thực tiễn triển khai AI trong giáo dục đại học trên thế giới cho thấy một xu hướng khá rõ: AI được đưa vào hỗ trợ mạnh mẽ hoạt động dạy học và đánh giá, nhưng luôn đi kèm với các nguyên tắc kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo vệ liêm chính học thuật và vai trò của giảng viên. Tại Đại học Stanford (Mỹ), giảng viên được khuyến khích tích hợp AI vào thiết kế bài tập, thảo luận và học liệu, nhưng đồng thời phải quy định rõ phạm vi sử dụng và yêu cầu người học công khai việc dùng AI như một dạng “trợ giúp học thuật” tương tự con người.
Trong khi đó, các trường như Đại học Monash University (Úc) hay Đại học Newcastle (Úc) lại cho thấy một thực tế quan trọng: không thể phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ để kiểm soát gian lận, bởi các công cụ phát hiện AI còn thiếu độ tin cậy và dễ sai lệch, điều đó buộc giảng viên phải giữ vai trò quyết định trong thiết kế và đánh giá học tập.
Còn tại Việt Nam, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) đã ban hành một văn bản Quy định về kiểm soát đạo văn và sử dụng AI trong các sản phẩm học thuật. Đồng thời xác định rõ ràng phạm vi, đối tượng và các hành vi vi phạm trong quá trình sử dụng AI trong dạy và học; xây dựng khuôn khổ cho việc sử dụng AI một cách minh bạch và có trách nhiệm. Từ đó nhằm chủ động nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và uy tín học thuật của trường.
Từ thực tiễn quốc tế và trong nước, có thể thấy những định hướng trong dự thảo Thông tư như coi AI là công cụ hỗ trợ, yêu cầu minh bạch, có kiểm soát, bảo đảm liêm chính học thuật và giữ vai trò trung tâm của giảng viên là phù hợp với xu thế chung. Đây không chỉ là cách tiếp cận thận trọng trước rủi ro công nghệ, mà còn là điều kiện cần để quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học diễn ra bền vững, không làm suy giảm các giá trị cốt lõi của hoạt động học thuật.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận